Tranh luận nóng

Bài học cho việc xây dựng tổng sơ đồ năng lượng VIII

Thứ Sáu, 10/01/2020 07:23

(Diễn đàn trí thức) - Cho rằng giá thành của nhiệt điện than rẻ nhưng nếu tính đúng, tính đủ các chi phí ngoại biên thì không phải như vậy

Bai hoc cho viec xay dung tong so do nang luong VIII
Xin trân trọng giới thiệu bài viết của GS-TSKH, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (1980-1992), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đối ngoại của Quốc Hội (1997-2007), Đại biểu Quốc hội (1992-2007) bàn về năng lượng quốc gia. Sau đây là nội dung bài viết:

BÀI HỌC CHO VIỆC XÂY DỰNG TỔNG SƠ ĐỒ NĂNG LƯỢNG VIII 

                                      Nguyễn Ngọc Trân [1]

Một tiếng nói nhiều hậu ý

Việc có ý kiến khác nhau - ủng hộ và phản bác - về điện than là điều bình thường. Vấn đề này đã được tranh luận khá nhiều ít nhất từ ba năm nay với xu thế ngày càng nổi trội yêu cầu giảm tỷ trọng điện than trong cán cân năng lượng quốc gia. Trên thế giới cuộc tranh luận và xu thế cũng như vậy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu do sự ấm lên toàn cầu có phần trách nhiệm của điện than.

Tuy nhiên, việc tiếng nói cho rằng việc không ủng hộ điện than, như khi một số tỉnh phía Nam đã khước từ, đã khiến cho hệ thống điện hầu như không còn dự phòng, được phát biểu tại một hội nghị chính thức, hội nghị tổng kết ngành công thương năm 2019, là điều đáng quan tâm. 

“Hệ thống điện hầu như không còn dự phòng” dựa trên lập luận nào

Tiếng nói trên chắc hẳn dựa trên lập luận cho rằng trong các dạng năng lượng (NL) chủ lực, điện hạt nhân trước đây dự kiến đặt tại Ninh Thuận đã bị hoãn không rõ thời hạn. Tiềm năng thủy điện hữu dụng trên lãnh thổ quốc gia hầu như đã được khai thác hết (đó là chưa kể đến thất thường về mưa do biến đổi khí hậu). Điện khí thì dự trữ khí của Việt Nam còn không nhiều. Khí hóa lỏng LNG thì tới nay Việt Nam không có phải nhập khẩu, giá thành cao, lệ thuộc bên ngoài. NL gióNL mặt trời thì chỉ là những dạng năng lượng phân tán, phập phồng, không có khi đứng gió, chỉ tích được điện ban ngày khi không bị mây che. Tích điện thu được rất tốn kém, hiệu suất lại không cao.

Bức xạ từ NL mặt trời ở Việt Nam chỉ thuộc loại trung bình trên thế giới. Nhưng quan trọng hơn cả là “1 MW NL gió hoặc NL mặt trời mới lắp đặt cần 11,8 km đường dây đấu nối vào mạng”. Nói tóm lại, NLTT ở Việt Nam hiện tại chưa thể xem là một nguồn cung đáng tin cậy trong cán cân NL quốc gia. Chỉ còn điện đốt than là đáng tin vì nguồn than có sẵn, giá thành rẻ, công nghệ đã được làm chủ và không ngừng được cải tiến.

Với lập luận trên chúng ta hiểu tại sao cho tới nay trong cán cân NL quốc gia tỷ trọng của điện than luôn cao, và nếu cứ tiếp tuc, sẽ ngày càng cao. Nói cách khác việc “hệ thống điện hầu như không còn dự phòng” bắt nguồn từ chỗ chỉ biết có điện than, từ chối xem xét các dạng NLTT.

Thế nhưng lập luận này không thể đứng vững vì:

+ Không theo kịp tình hình tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nói chung, NLTT nói riêng mà trước tiên là NL gió và NL mặt trời.

+ Không cập nhật về hội nhập quốc tế và mâu thuẫn với chính mình. Cho rằng LNG phải nhập khẩu, tùy thuộc bên ngoài, trong lúc than là nguồn nguyên liệu có sẵn nhưng lại quên hay không muốn cho biết rằng các loại than cám của Việt Nam có tỷ lệ đốt cháy hết không cao, và không đủ. Các trung tâm nhiệt điện Duyên Hải, Vĩnh Tân đang phải nhập than bi-tum và á bi-tum từ Indonesia, Australia. Hơn thế nữa, trong tính toán dự án cảng biển nỗi ngoài khơi tỉnh Sóc Trăng, hai Bộ GTVT và Công Thương đều đưa vào dự án việc nhập khẩu hàng chục triệu tấn than/năm khi đó ĐBSCL sẽ trở thành trung tâm điện than với tổng công suất 18270 MW lớn nhất cả nước.

+ Cho rằng giá thành của nhiệt điện than rẻ nhưng nếu tính đúng, tính đủ các chi phí ngoại biên thì không phải như vậy, ngay cả khi giá thành của NL gió và NL mặt trời còn chưa tiếp tục đà giảm như hiện nay.

+ Cho rằng “1 MW NLG và NLMT mới cần 11,8 km đường dây” là cách tiếp cận chỉ thấy tập trung, không chia sẻ đã ngăn cản sự phát triển của NLTT. Cho tới khi không ngăn cản được, bị động trước sự phát triển đã dẫn tới tình trạng mạng lưới “mắc nghẹn” với công suất NLTT được lắp đặt.

+ Không quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước “Không đánh đổi môi trường với tăng trưởng kinh tế”. Nhắm mắt trước tác hại của các nhà máy điện than, và chính vì các tác hại này mà sau Hội nghị COP 21 và Hiệp ước Paris 2015, ngày càng nhiều nước trên thế giới đã quyết định ngưng sản xuất điện than từ nay đến các năm 2030 và sau đó. Không thể “vì nghèo” mà phải chấp nhận điện than, đánh đổi môi trường, sức khỏe và mạng sống của thế hệ này và của các thế hệ mai sau.

Bài học cho việc xây dựng Tổng sơ đồ năng lượng VIII (TSĐ VIII)

Những điều đã nghe từ hội nghị tổng kết ngành công thương năm 2019 về điện than, là một bài học hết sức cần thiết đúng lúc cho việc xây dựng TSĐ VIII. Ngày nào chúng ta còn nhắm mắt trước tai họa đối với môi trường, đối với sức khỏe người dân của điện than; còn không theo dõi tiến bộ, khoa học công nghệ về NLTT, trước tiên là NL gió, và NL mặt trời, chúng ta sẽ không đổi mới được cách xây dựng TSĐ NL quốc gia vì sự phát triển bền vững, góp phần giảm thiểu lượng khí nhà kính như Nhà nước ta đã cam kết tại COP 21.

Xin được nhắc lại những góp ý mà tác giả đã gửi gắm trong bài phát biểu tại Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 05.03.2019 [2].

(1) Đối với từng dạng năng lượng, phân tích khách quan đầy đủ cán cân Được - Mất trên cả ba mặt kinh tế, môi trường và xã hội, đặc biệt sinh kế sức khỏe của người dân. Từ đó suy tính trọng số cho từng dạng năng lượng.

(2) Theo dõi sát sao tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ giá thành trong lĩnh vực năng lượng; nói riêng trong lĩnh vực điện than, năng lượng tái tạo (NLTT), rút ra những dự báo điều chinh kịp thời.

(3) Tăng trưởng NLQG phải đi trước và là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế. Nhưng với tốc độ nào, liên quan ra sao với hệ số đàn hồi điện là hợp lý? Nhớ rằng (a) Nhu cầu tốc độ tăng trưởng của NLQG còn tùy thuộc vào mô hình tăng trưởng kinh tế; (b) Mô hình tăng trưởng kinh tế ngày nay của các nước đã thay đổi dưới tác động của hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thú ba và lần thứ tư; (c) Tạo ra nguồn NL mới phải đi cùng với tiết kiệm trong sử dụng NL; (d) Mô hình tính toán nhu cầu và tốc độ tăng trưởng của NLQG theo tăng trưởng GDP, và phân bổ các dạng năng lượng cần thường xuyên được cập nhật.

(4) Mô hình tăng trưởng kinh tế lại phải được “nhúng” vào bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu toàn cầu và phải tính đến những tham vọng của các siêu cường về lãnh thổ, lãnh hải và tài nguyên thiên nhiên.

(5) Tổng sơ đồ phải tính đến tiềm năng năng lượng của các vùng kinh tế - sinh thái của đất nước, khai thác tối đa các tiềm năng này để đóng góp vào tổng sơ đồ, đồng thời phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Làm như vậy, còn tối ưu hóa mạng lưới truyền tải điện quốc gia, giải tỏa “thêm 1MW cần 11,8 km đường dây”.

(6) Kết hợp tập trung với phân tán, giảm tải cho tập trung, cùng lúc với phát huy tiềm năng của phân tán được định hướng bằng chính sách của Nhà nước.

(7) Chính sách mà Nhà nước cần ban hành có vai trò vô cùng quan trọng. Chính sách đúng sẽ giải phóng năng lực của xã hội. một bài học lớn của Đổi Mới 1986.

(8) Các tiếp cận trên đây đan kết với nhau. Do vậy cách xây dựng tổng sơ đồ cần được đổi mới với tầm nhìn rộng, với quan điểm hệ thống và động, và tư duy luôn đổi mới.

_____________________

 Từ khóa: điện than, năng lượng tái tạo, cán cân năng lượng quốc gia, tổng sơ đồ năng lượng quốc gia. 

CHÚ THÍCH:

[1] Giáo sư, đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

[2] Nguyễn Ngọc Trân, Nhiệt điện than trong một tổng sơ đồ năng lượng quốc gia đổi mới, http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/nhiet-dien-than-trong-tong-so-do-nang-luong-qg-doi-moi-3376043/