Tranh luận nóng

Những câu hỏi đang chờ trả lời

Thứ Hai, 11/02/2019 07:31

(Diễn đàn trí thức) - Công văn 893/VPCP ngày 30.01.2019 đã được gửi đến Bộ TNMT và Bộ NNPTNT để “nghiên cứu, xử lý theo chức năng quản lý nhà nước được giao và trả lời...

NHỮNG CÂU HỎI ĐANG CHỜ TRẢ LỜI 

                                                                Nguyễn Ngọc Trân [1]

Công văn 893/VPCP ngày 30.01.2019 đã được gửi đến Bộ TNMT và Bộ NNPTNT để “nghiên cứu, xử lý theo chức năng quản lý nhà nước được giao và trả lời Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân” về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé.

1. Ngày 01.02.2019, tôi nhận được công văn số 893/VPCP-NN đề ngày 30.01.2019 của Văn phòng Chính phủ (VPCP), gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT), có liên quan đến hai thư tôi gửi cho Thủ tướng Chinh phủ các ngày 04.01 và 08.01.2019 về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé mà Bộ TNMT đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) (QĐ số 3805/QĐ-BTNMT ngày 18.12.2018) và 7 ngày sau đó Bộ NNvPTNT đã phê duyệt đầu tư (QĐ số 5078/QĐ-BNN-XD, ngày 25.12.2018).

Công văn cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, VPCP chuyển (các thư của tôi đã gửi Thủ tướng Chính phủ) đến hai Bộ để nghiên cứu, xử lý theo chức năng quản lý nhà nước được giao và trả lời tôi.

Đây là một món quà tất niên quý báu, cho thấy phản biện có cơ sở khoa học, kiên trì vì lợi ích của đất nước, được lắng nghe.

Trong thư cám ơn Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP đã gửi công văn 893, tôi lưu ý hai kiến nghị của tôi đến Thủ tướng Chính phủ mà tôi sẽ trở lại ở cuối bài.

Với mong muốn nhận được trả lời đi vào những vấn đề chính yếu, tôi đã gửi thư đến Bộ trưởng Bộ NNPTNT và Bộ trưởng Bộ TNMT ngày 04.02.2019.

2. Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ NNPTNT, tôi đã gửi kèm bài phản biện của tôi tại hội thảo khoa học về Dự án tại Rạch Giá ngày 07.09.2018 , “Cơ sở khoa học và lý do không thể phê duyệt Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé[2] trong đó tôi đã nêu lên bốn lý do để không thể phê duyệt dự án. Đó là:

Lý do 1. Về mặt phương pháp luận, cho dù là một dự án thủy lợi, báo cáo NCKT phải xem xét dự án trong một khung khổ toàn diện các yếu tố của môi trường, với quan điểm hệ thống (tác động giữa các yếu tố) và động (nhịp điệu và biến động theo thời gian, yếu tố biến đổi khí hậu). Có như vậy giải pháp và việc khai thác tài nguyên để phát triển mới có thể bền vững.

Báo cáo NCKT của dự án là phiến diện, tĩnh tại sơ lược, hầu như chỉ tập trung vào vấn đề nước, và căn cứ vào kết quả chạy mô hình để kết luận, và là một sản phẩm khép kín trong ngành thủy lợi [3].

Nhung cau hoi dang cho tra loi
Hệ thống Cái lớn Cái bé

Lý do 2. Báo cáo tóm tắt của Dự án, trong 48 trang đã 11 lần đổ lỗi cho đầu tư chưa/không đồng bộ, và 7 lần viện dẫn cần đầu tư hoàn chỉnh.

Cần phân tích hiện trạng một cách khách quan và khoa học. Nêu lên hiện trạng mà không chỉ đúng nguyên nhân, không tổng kết, đánh giá việc khai thác trong các thập niên đã qua các hệ sinh thái đúng sai ra sao rồi từ đó đổ lỗi là đầu tư “không đồng bộ”, “không hoàn chỉnh” và kết luận là cần thiết đầu tư hai cống là không nghiêm túc, dẫn đến vòng xoáy khai thác sai, bao ví đồng bằng với quá nhiều cống đập các kích cở, đối lập con người với thiên nhiên, châu thổ với biển.

Lý do 3.7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau” đã nêu trong QĐ 489/TTg (phê duyệt chủ trương đầu tư), rất hệ trọng. Khi chưa làm rõ các vấn đề này mà đã triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường về môi trường, về sản xuất và đời sống của người dân, lãng phí ngân sách nhà nước trong khi nợ công đã rất cao.

Sau 18 tháng (kể từ ngày ban hành QĐ 489/TTg), giai đoạn 1 và “giai đoạn sau” vẫn còn là một cái gì mờ mờ ảo ảo. Khi nào xong giai đoạn 1? Báo cáo tóm tắt viết: “Khi công trình hoàn thành” (trang 47, dòng 12 từ dưới đếm lên). Khi đó là khi nào? Còn phải đầu tư những công trình nào nữa, ở đâu, lúc nào, bao nhiêu thì mới gọi là đầu tư “hoàn chỉnh”, “đồng bộ”, công trình hoàn thành?

Không thể phê duyệt “khống” về nội dung như vậy. Phải làm rõ để nếu sau này hiệu quả của dự án không như báo cáo thì biết tại sao và từ đâu, trách nhiệm thuộc về khâu nào, và về ai.

Lý do 4. Báo cáo đánh giá ĐTM là một tài liệu “kỳ lạ” về cấu trúc và nội dung và về vị trí.

Về nội dung, ĐTM chủ yếu đánh giá tác động lên môi trường lúc chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án. Trong khi đó, nội dung được chờ đợi là báo cáo đánh giá tác động lên môi trường khi dự án hoàn thành và đi vào vận hành. Bởi có như vậy việc thẩm định ĐTM của dự án mới mang đầy đủ ý nghĩa trước khi phê duyệt đầu tư dự án.

Sau khi được phản biện, tác động lên môi trường được bổ sung vào ĐTM với sơ đồ vận hành cống như sau : “Vào mùa khô (từ tháng 1÷ 6) chỉ đóng khoảng 20 - 26 ngày vào các tháng 2 đến tháng 5, trong 1 tháng chỉ đóng tối đa 6 ngày để kiểm soát mặn/ngọt; Vào mùa mưa (từ tháng 7 ÷ 12) bình thường hầu như cống mở cửa hoàn toàn trả lại gần như hiện trạng lòng sông tự nhiên, chỉ đóng vào thời điểm có xảy ra mưa lớn, lũ lớn và triều lớn”.

Chi 3309,5 tỷ đồng để xây dựng hệ thống thủy lợi vận hành theo sơ đồ như trên! Có nghiêm túc, có lãng phí không hay đưa ra chỉ nhằm giảm thiểu các tác động? Thế nhưng ĐTM vẫn được Bộ TNMT phê duyệt!

3. Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ TNMT, tôi nhắc lại sáu câu hỏi cần làm sáng tỏ trong Quyết định 3805/QĐ-BTNMT [4]. Đó là:

Câu hỏi 1: Tại sao ĐTM vẫn được phê duyệt với một sơ đồ vận hành các cống sơ lược để rồi yêu cầu xây dựng một chế độ vận hành khác? (Điều 1, khoản 2.8.).

Câu hỏi 2: Nếu không xây dựng được chế độ vận hành theo yêu cầu này thì sao? Làm gì với công trình đã xây xong? Có phải sẽ yêu cầu được đầu tư tiếp cho “đồng bộ” và “hoàn chỉnh”? Tác động lên môi trường của công trình hối tiếc này “ai” chịu trách nhiệm?

Theo Điều 1, khoản 3.1. của Quyết định 3805 “Chủ dự án chỉ được phép triển khai Dự án sau khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:

     (a) Được Thủ tướng Chính phủ, Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư Dự án; bảo đảm các yêu cầu của Nghị quyết số 120 (…); phù hợp vói Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1387/QD-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2012, Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL (điều chỉnh) trong giai đoạn tiếp theo (…).

Câu hỏi 3: Phải nói rõ với vốn đầu tư cho giai đoạn 1 là 3309,5 tỷ đồng, Dự án thuộc loại phải được Thủ tướng Chính phủ, hay Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư?    

Câu hỏi 4: Tuân thủ NQ 120 là yêu cầu cao nhất, hay chỉ cần phù hợp với Quy hoạch thủy lợi 2012 cũng đủ, cho dù quy hoạch này (ban hành từ năm 2012) có những chỗ không phù hợp với quan điểm chỉ đạo của NQ 120 ban hành tháng 11.2017? Và còn nữa, “giai đoạn tiếp theo” là vào lúc nào?

Hai câu hỏi 3 và 4 phải được làm rõ vì mập mờ ở các nội dung này sẽ mở ngõ cho việc “lách” để Dự án được Bộ NNvPTNT phê duyệt đầu tư.

     (b) Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật của Dự án (…) trình Bộ NNvPTNT phê duyệt.

Câu hỏi 5: Báo cáo NCKT là một tài liệu cốt lõi của Dự án, cần phải được hoàn thiện, như Hội đồng thẩm định yêu cầu, trên cơ sở đó mới tiến hành đánh giá ĐTM. Quan điểm của Bộ TNMT là thế nào mà lại phê duyệt ĐTM rổi yêu cầu chủ đầu tư “tiếp tục hoàn thiện” báo cáo NCKT?

Câu hỏi 6: Có gì đảm bảo việc “tiếp tục hoàn thiện” báo cáo NCKT của Dự án sẽ không làm theo kiểu chỉnh sửa bổ sung báo cáo ĐTM (và vẫn được Bộ TNMT phê duyệt)?

Với QĐ 3805, Bộ TNMT phê duyệt ĐTM của Dự án theo kiểu cách đã làm là một khe hở khổng lồ, mở ngõ cho tiêu cực, lãng phí không thể chấp nhận!

4. Hai Bộ làm sáng tỏ các câu hỏi đã trình bày trên đây do vậy là rất cần thiết. Nhưng còn phải xem xét thêm về kỹ luật hành chính.

Xin được nhắc lại ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với văn bản số 7627/BC-BNN-XD ngày 28.09.2018 của Bộ NNPTNT.

Công văn số 11482/VPCP-NN ngày 24.11.2018 ghi rõ:

“Về Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại văn bản số 7627/BC-BNN-XD  về tình hình chuẩn bị đầu tư xây dựng Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có ý kiến như sau:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức nghiên cứu triển khai Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé đảm bảo chặt chẽ, khoa học, tuân thủ pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư, xây dựng và bảo vệ môi trường và Nghị Quyết số 120 ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khi hậu.

Văn phòng Chính phủ thông báo để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan biết, thực hiện”.

Không có cụm từ “giai đoạn 1” đi sau Dự án “Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé” trong ý kiến của Thủ tướng Chính phủ không phải là do sơ sót lý do khoa học như đã được phân tích.

Từ đó xin nêu lên với hai Bộ bốn câu hỏi:

(a) Bộ TNMT có tự xem mình là một “cơ quan có liên quan biết, thực hiện”?

(b) Hai Bộ lĩnh hội việc không có cụm từ “giai đoạn 1” trong ý kiến của Thủ tướng (công văn 11482/VPCP-NN) như thế nào?

(c) Tại sao trong Quyết định 3805/QĐ-BTNMT ban hành sau công văn 11482/VPCP hơn ba tuần lễ, Bộ TNMT vẫn phê duyệt ĐTM của dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1? Phải chăng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đã bị Bộ phớt lờ? hay biết mà cố tình làm trái, phê duyệt ĐTM để mở ngõ cho Bộ NNvPTNT phê duyệt đầu tư Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1, ngay sau đó ngày 25.12.2018?

(d) Tại sao trong Quyết định 5078/QĐ-BNN-XD ngày 25.12.2018 ban hành sau công văn 11482/VPCP một tháng, Bộ NNPTNT vẫn phê duyệt Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1? Có phải Bộ đã phớt lờ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ? cố tình làm trái, “gài” cho được Dự án vào một quy trình không biết hồi kết và tổng vốn đầu tư [5]?

Trước tình hình đã nêu trên đây, tôi đã kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ [6]:

(1) Yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện đúng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong văn bản 11482/VPCP-NN, xem xét rút lại Quyết định số 3805/QĐ-BTNMT và Quyết định số 5078/QĐ-BNN-XD;

(2) Trước mắt Chủ đầu tư Dự án dừng mọi chi tiêu nhằm triển khai xây dựng công trình, chờ quyết định về hai văn bản trên.

Vì sự phát triển bền vững của đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, dư luận chờ đợi trả lời của hai Bộ.

CHÚ THÍCH:


[1] Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI.

[2] Xem http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet-3365429/

[3] Chủ đầu tư Dự án là Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10. Cơ quan lập các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi là một liên danh gồm Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, và Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng thủy lợi 2. Cơ quan lập Báo cáo ĐTMViện Kỹ thuật Biển, thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam.

[4] Nguyễn Ngọc Trân, Phê duyệt một ĐTM và trách nhiệm giải trình”, Báo Đất Việt ngày 08.01.2019, http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/phe-duyet-mot-dtm-va-trach-nhiem-giai-trinh-3372499/

[5] Xem phụ chú 2.

[6] Nguyễn Ngọc Trân, Hai quyết định cần phải xem xét lại, Báo Đất Việt ngày 14.01.2019http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/hai-quyet-dinh-can-phai-xem-xet-lai-3372822/