Tranh luận nóng

Phát triển năng lượng tái tạo: Không nên bỏ qua điện khí

Thứ Năm, 05/11/2020 07:27

(Diễn đàn trí thức) - Điện gió và điện mặt trời có nhược điểm là phụ thuộc vào thời tiết nên cần phát triển thêm điện khí để đảm bảo an ninh năng lượng.

Nhược điểm của điện gió, điện mặt trời

PGS.TS Trương Duy Nghĩa - Chủ tịch Hội KHKT Nhiệt Việt Nam đã chỉ ra những nhược điểm của điện gió, điện mặt trời trong diễn đàn khoa học “Chính sách phát triển năng lượng tái tạo trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường” do Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam tổ chức.

Theo ông Nghĩa, nước ta không phải là quốc gia có nhiều nắng như các nước có sa mạc, nhiều gió như các nước ở ven biển Bắc. Tuy nhiên trữ lượng cũng lớn, khai thác chưa được nhiều, còn có thể khai thác được nhiều hơn nữa năng lượng mặt trời và gió.

Phát triển ĐMT (điện mặt trời)  và điện gió có ưu điểm là: Nguồn điện sạch, không sử dụng nhiên liệu, không phát thải tro xỉ và các khí độc hại; Suất đầu tư thấp và ngày càng thấp, do đó giá thành sản xuất điện ngày càng giảm;

Phat trien nang luong tai tao: Khong nen bo qua dien khi
PGS.TS Trương Duy Nghĩa - Chủ tịch Hội KHKT Nhiệt Việt Nam.

Vốn đầu tư có thể huy động linh hoạt, có nhiều thuận lợi trong việc xã hội hóa đầu tư. Đây là điều quan trọng trong điều kiện nguồn vốn còn eo hẹp của Việt Nam; Vận hành đơn giản, gần như tự động, chi phí vận hành thấp;

Quy mô công suất dao động trong một phạm vi rất rộng, từ rất nhỏ như ĐMT áp mái, đến trung bình, đến lớn và có thể rất lớn nên có nhiều thuận lợi cho việc ứng dụng đại trà trong cả nước, có thể bố trí gần nơi có phụ tải tiêu thụ điện, tránh việc tập trung lớn trên một diện tích nhỏ hẹp, dễ bị mất nguồn khi tắt nắng, tắt gió, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng tiếp nhận của hệ thống điện. Nếu được như vậy thì sẽ là một tiêu chí quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng.

Tuy nhiên, PGS.TS Trương Duy Nghĩa cũng cho rằng, ĐMT và điện gió vẫn tồn tại nhiều nhược điểm như: Hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết, công suất phát dao động liên tục trong ngày, gây khó khăn cho việc vận hành ổn định hệ thống điện, đặc biệt đối với những trạm ĐMT, ĐG công suất lớn.

Chính vì phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên ở cùng một công suất thiết kế, sản lượng điện sản xuất ra chỉ bằng 1/3 - 1/4  sản lượng điện của nhiệt điện than, nhiệt điện khí.

Đối với điện than và điện khí, do không phụ thuộc gì vào thời tiết, hoàn toàn do con người quyết định nên trước kia vào những năm thiếu điện thường phát trên 8.000 giờ, nghĩa là quanh năm, nhà máy điện làm việc ở công suất thiết kế.

Vì vậy không thể nói đầu tư 500MW ĐMT hay điện gió thì có thể thay thế 500MW điện than hay điện khí. Đất nước cần điện năng, không phải công suất. Công suất điện chỉ là điều kiện cần, thể hiện thế năng của nguồn điện.

Điện năng không phải hàng hóa để có thể sản xuất thừa thì cất trong kho, mà luôn phải đảm bảo cân bằng giữa cung và cầu. Nhu cầu cần bao nhiêu thì sản xuất phải đáp ứng bấy nhiêu. Riêng ĐMT và điện gió không đáp ứng được quan hệ cung cầu này. Đây là yếu tố chính gây mất an ninh năng lượng đối với ĐMT và điện gió.

Khi tắt nắng, tắt gió thì hệ thống điện nối với ĐMT, điện gió phải có nguồn sản xuất điện dự trữ thay thế để đáp ứng kịp thời nguồn điện bị mất này. Công suất nguồn ĐMT, điện gió càng lớn thì độ dự trữ công suất của hệ thống phải càng lớn.

Nguồn điện dự trữ tốt nhất là thủy điện lớn và điện khí, là những nguồn có thời gian khởi động nhanh, tính bằng phút (như điện khí mất 13 - 15 phút khi khởi động từ trạng thái lạnh đến lúc mang tải).

Thủy điện, đặc biệt là thủy điện tích năng, giữ vai trò điều tần, bù đắp điện thiếu hụt của hệ thống và là nguồn điện quan trọng bảo đảm an ninh năng lương.

Để khắc phục mất điện khi tắt nắng, tắt gió, thì nguồn phát điện tốt nhất là điện khí. Điện khí có nhược điểm rất quan trọng là giá thành sản xuất điện cao, nếu đi từ LNG nhập khẩu thì giá thành sản xuất điện đắt gấp đôi điện than.

Vì vậy nếu đẩy mạnh phát triển ĐMT, điện gió thì cần phát triển nhiều hơn điện khí, vừa đáp ứng nhu cầu phủ đỉnh đồ thị phụ tải, vừa bù đắp thiếu hụt điện do tắt nắng, tắt gió. Vì vậy quy hoạch xác định tỷ lệ cơ cấu các nguồn phát điện phải cân đối giữa các nguồn phát điện để bảo đảm giá thành sản xuất điện mà đất nước chấp nhận được.

Phat trien nang luong tai tao: Khong nen bo qua dien khi
Một nhà máy điện khí LNG ở Bình Thuận.

Làm sao để đảm bảo an ninh năng lượng?

PGS.TS Trương Duy Nghĩa cho rằng, để đảo bảo an ninh năng lượng quốc gia thì cần có 2 tiêu chí: Có đủ điện đáp ứng nhu cầu điện năng quốc gia, không để mất điện, thiếu điện; Có đủ nguồn điện dự trữ để bù đắp sự thiếu hụt điện do mất nguồn điện khác như các sự cố hư hỏng, tắt nắng, tắt gió đối với ĐMT, điện gió.

Vì thế, ông Nghĩa cho rằng, hệ thống điện quốc gia phải mạnh, có nhiều nhà máy điện công suất đủ lớn, đảm nhiệm việc sản xuất điện chủ yếu của hệ thống điện.

"Chúng ta cần tránh đầu tư trên một diện tích nhỏ các trạm ĐMT, điện gió có công suất quá lớn, cần rải ra trên nhiều diện tích, quy mô công suất nhỏ hơn. Quy mô công suất được chọn theo khả năng tiếp nhận của hệ thống điện (có đủ dự trữ công suất).

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, công suất khả dụng cho mỗi trạm ĐMT, điện gió khoảng 100MW là phù hợp, tăng dần quy mô công suất theo khả năng tiếp nhận của hệ thống, công suất tối đa chưa nên và có lẽ chưa thể vượt quá 500MW. Cơ quan quản lý hệ thống điện cần có lộ trình về công suất có thể tiếp nhận của hệ thống điện đối với ĐMT và điện gió.

Cố gắng xây dựng các trạm ĐMT, điện gió gần nơi có nhu cầu điện, và những nơi có thể đấu trực tiếp vào lưới điện đã có (địa phương, vùng hay quốc gia) tránh xây dựng đường dây tải điện riêng cho ĐMT, điện gió do về nguyên tắc phải thiết kế đường dây có sức tải ứng với công suất phát lớn nhất của trạm ĐMT, điện gió trong khi các trạm này chỉ phát được vài giờ trong ngày ở công suất lớn nhất, các giờ khác đều phát ở công suất thấp, buổi tối còn không có ĐMT, nghĩa là đường dây chạy không tải.

C ác trạm ĐMT, điện gió không nên có khoảng cách quá xa các trung tâm tiêu thụ điện lớn. Việc đầu tư quá nhiều ĐMT, điện gió ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, trong khi tại Bình Thuận đã có Trung tâm Nhiệt điện than công suất thuộc loại lớn của thế giới (6.180MW) là điều không hợp lý" - ông Nghĩa kiến nghị.

Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo môi trường trong việc phát triển tái tạo cũng được ông Nghĩa đặt ra. Theo vị chuyên gia này, đối với từng loại năng lượng thì sẽ có những chính sách khác nhau để đảm bảo môi trường.

Như với ĐMT có sử dụng các tấm pin quang năng là các thanh kim loại nặng, tuổi thọ của pin mặt trời theo thông báo hiện nay vào khoảng 8 - 10 năm. Việc xử lý các pin thải loại khi hư hỏng hoặc phải thay thế chưa được đặt ra khi lập Dự án đầu tư.

Đề nghị khi lập Dự án đầu tư ĐMT cần có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nêu rõ việc xử lý các tấm pin mặt trời thải loại. Điều này cũng tương tự như NMĐ hạt nhân (tất nhiên ở mức độ thấp hơn nhiều) việc xử lý các thanh nhiên liệu đã hết khả năng sử dụng và việc chôn lấp nhà máy khi đóng cửa nhà máy.

Đối với điện gió thì quan tâm đến bảo vệ môi trường khi dùng điện gió chủ yếu là tiếng ồn và hạ âm. Nếu các trang trại điện gió ở ngoài khơi xa thì điều này không đáng bận tâm.

Hay đối với các lò đốt rác phát điện, khi xây dựng các xí nghiệp đốt rác phát điện, người ta đã đặt lò hơi vào buồng đốt thứ cấp của lò đốt rác để tận dụng nhiệt của lò đốt rác để sinh hơi phát điện và do đó đã không thực hiện được chức năng của buồng đốt thứ cấp là để khử dioxin và furan, là các khí độc sinh ra khi đốt rác thải không được phân loại từ nguồn, có nhiều rác là các chất hữu cơ công nghiệp có chứa các hóa chất gốc Clo như đồ nhựa, vải nilon…

Quốc Hương