Tranh luận nóng

74% lao động ngành chế biến đối diện nguy cơ đào thải

Thứ Năm, 07/12/2017 06:52

(Doanh nghiệp) - Lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam được cho là có nguy cơ bị máy móc đào thải với tỷ lệ cao nhất khu vực ASEAN.

Đó là một trong những thông tin chính trong báo cáo chi tiết về chủ đề Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Theo báo cáo, Việt Nam sẽ là nước chịu tác động rất mạnh mẽ bởi cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hay còn được gọi là cách mạng 4.0.

Báo cáo dự đoán, sẽ có 74% số lao động ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam có mức độ rủi ro cao, dễ bị thay thế do tự động hóa. Con số này cao hơn so với các nước trong khu vực như Phillipines (54%), Thái Lan (58%) và Indonesia (67%).

"Bản chất ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam hiện không có hiệu suất cao, lao động sử dụng không thông qua đào tạo chuyên sâu, chủ yếu lao động lắp ráp, chế biến giản đơn ở những công đoạn có thể dùng máy móc thay thế", Ban Kinh tế Trung ương nêu rõ.

Những năm qua, bức tranh công nghiệp Việt Nam đã có những chuyển dịch, khi tỷ trọng công nghiệp khai khoáng giảm, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo so với toàn ngành công nghiệp tăng từ 49,8% năm 2010 lên 50,5% vào năm 2015.

74% lao dong nganh che bien doi dien nguy co dao thai

Tỉ lệ lao động Việt mất việc có thể cao nhất ASEAN

Tổng số lao động của ngành chế biến chế tạo năm 2010 là 6,6 triệu người, chiếm 13,5% trong tổng lao động cả nước; năm 2015, con số này đã tăng lên thành 8 triệu người, tương ứng với 15,3% trong tổng số lao động toàn quốc. Lao động trong ngành chế biến chế tạo chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo.

"Lao động trong các ngành chế biến chế tạo của Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ rất lớn bị mất việc làm do tác động của cuộc cách mạng 4.0. Trong đó, lao động sản xuất theo dây chuyền lắp ráp, gia công sẽ bị ảnh hưởng trước tiên vì khả năng dễ dàng trong việc sử dụng robot trong hầu hết tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất", báo cáo nêu.

Theo đó, sẽ có sự suy giảm đáng kể số lượng việc làm trong các lĩnh vực hành chính, chế biến chế tạo và xây dựng trong giai đoạn từ 2015 đến 2020.

Theo Bộ KH-CN, tiến bộ công nghệ dẫn đến sự dịch chuyển của bản chất công việc từ sử dụng lao động thủ công sang lập trình và kiểm soát một cách tự động bằng máy móc có hiệu năng cao. Khi đó, người lao động chủ yếu đảm nhiệm việc quản lý hệ thống máy móc thay vì tham gia trực tiếp vào.

Trong một diễn biến liên quan, theo một khảo sát mới đây của Văn phòng Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đã khiến nhiều người ngỡ ngàng khi cho biết, năm 2016, tại các công ty hàng đầu thế giới của Nhật Bản ở Việt Nam, công nhân người Việt chỉ nhận được khoản tiền lương rất thấp.

Giải thích về điều này, các chuyên gia khẳng định, một trong những nguyên nhân khiến người lao động Việt Nam đang phải nhận mức lương “bèo” chính là năng suất lao động quá thấp.

Cụ thể, Tổng cục Thống kê cho biết, năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% Singapore. Như vậy, mỗi người Singapore làm việc có năng suất bằng 23 người Việt cộng lại. Ngoài ra, năng suất lao động của người Việt cũng chỉ bằng 17,4% của Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Philippines và 48,8% của Indonesia.

Đồng thời, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, nguồn nhân lực có sự thiếu hụt trầm trọng lao động có trình độ tay nghề cao và công nhân kỹ thuật lành nghề khiến chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới trong năm 2014 chỉ đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng.

Trên thực tế, ông Đào Quang Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, cho biết, chất lượng lao động hiện nay còn thấp và tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 18,1% (năm 2015). Cơ cấu lao động theo cấp trình độ còn nhiều bất cập và ngày càng trầm trọng.

Trong khi đó, ông Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đánh giá, với cuộc cách mạng này, những ngành gắn với lao động thủ công sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, tiếp theo là các ngành gắn với quá trình tự động hóa.

Ông Thiên nói: “Phần lớn của cải sản xuất ra cho xã hội, của cải do trí tuệ sáng tạo ra chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng GDP.

Như vậy, thách thức ở đây chính là, nếu muốn ứng dụng được công nghệ 4.0, con người phải có trí tuệ mới tham gia được quá trình sản xuất. Nói về một nền kinh tế sáng tạo, bản thân mỗi con người trong đó phải có sự sáng tạo”.

Do đó, để phát huy được sự sáng tạo của mỗi lao động, không còn cách nào khác là phải cải cách, thay đổi ngay từ khâu đào tạo.

  • Sơn Ca (Tổng hợp)
}