Tranh luận nóng

Chọn thầu cao tốc Bắc Nam: Phải làm gì để không...chọn nhầm?

Thứ Tư, 17/07/2019 06:55

(Doanh nghiệp) - Với một dự án lớn, quan trọng như dự án cao tốc Bắc – Nam lựa chọn nhà thầu không đơn giản chỉ là vấn đề tài chính hay kinh nghiệm...

Ngày 15/7, Bộ Giao thông - Vận tải (GTVT) bắt đầu quá trình đánh giá hồ sơ sơ tuyển tham gia 8 dự án thành phần đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) thuộc Dự án Xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông, giai đoạn 2017 - 2020. Theo báo cáo, hiện đang có gần 60 bộ hồ sơ dự tuyển của các nhà đầu tư, liên danh nhà đầu tư trong và  ngoài nước tham gia. Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia đang đứng đầu về danh sách các nhà thầu tham gia ứng tuyển. Việt Nam có 29 doanh nghiệp tham gia với tư cách độc lập hoặc liên danh.

Sự xuất hiện của các nhà thầu trong nước ở một "siêu dự án" đúng nghĩa cả về quy mô nguồn vốn lẫn yêu cầu về trình độ kỹ thuật nhận được sự quan tâm lớn của dư luận xã hội. Chính vì tính chất đặc biệt của dự án, PGS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội) cho rằng, việc lựa chọn nhà thầu cho dự án không đơn giản chỉ là vấn đề tài chính hay kinh nghiệm mà cần quan tâm đến nhiều yếu tố khác nữa.

Chon thau cao toc Bac Nam: Phai lam gi de khong...chon nham?
Bộ Giao thông - Vận tải (GTVT) bắt đầu quá trình đánh giá hồ sơ sơ tuyển tham gia 8 dự án thành phần đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) thuộc Dự án Xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông, giai đoạn 2017 - 2020. Ảnh: TPO

Không đơn giản chỉ là tiền

PV:- Theo quan điểm của ông thì phải lựa chọn những nhà thầu như thế nào? Với những nhà thầu từng có "vết" như Tập đoàn Xây dựng đường sắt Trung Quốc, công ty mẹ của Công ty TNHH Cục 6 Đường sắt Trung Quốc, đơn vị tổng thầu đường sắt Cát Linh - Hà Đông đã gây ra nhiều tai tiếng, chậm tiến độ, đội vốn, gây mất lòng tin trong dư luận thì phải ứng xử như thế nào?

PGS.TS Hoàng Văn Cường:- Trước hết, phải tái khẳng định đây là dự án vô cùng quan trọng, quan trọng trong tất cả mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội cho tới an ninh quốc phòng. Vì thế, khi xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn để lựa chọn nhà thầu cho dự án cũng phải có các tiêu chí mang tính đặc biệt hơn, kiểm soát một cách chắc chắn và cẩn trọng hơn.

Như vậy, việc lựa chọn, xem xét nhà thầu không chỉ dựa trên quan điểm là có tiền, có kinh nghiệm, có kỹ thuật mà còn phải đáp ứng được các yêu cầu về đảm bảo an ninh, quốc phòng, ổn định về chính trị xã hội, giữ vững vai trò chủ động trong quá trình đầu tư. Với yêu cầu như vậy, việc lựa chọn nhà thầu có thể dựa trên những nguyên tắc sau.

Thứ nhất, với những nhà đầu tư có bất cứ “dấu vết” là nguy cơ đe dọa sự an toàn, ổn định của một trong các mục tiêu nói trên thì cần thiết phải có cơ chế ràng buộc cứng để chịu sự kiểm soát chặt chẽ, thậm chí có thể ra điều kiện loại thẳng, không cho phép tham gia.

Thứ hai, dự án cao tốc Bắc – Nam đã được chia thành nhiều gói thầu nhỏ và mỗi nhà đầu tư hoặc liên danh chỉ được giữ vai trò làm chủ một gói thầu để tránh tình trạng một nhà thầu hoặc liên danh các nhà thầu của cùng một quốc gia bắt tay nhau chi phối biến dự án thành “con tin” của nhà thầu. Vì khi để một nhà thầu hoặc những nhà thầu của một quốc gia duy nhất nắm giữ vai trò chi phối ở phần lớn dự án, thì khi xảy ra sự cố ở một gói thầu nào đó sẽ có nguy cơ là cái cớ để kéo theo sự đình trệ ở hàng loạt gói thầu tiếp theo.

Dự án có thể dễ dàng bị lèo lái để rơi vào vết xe đổ của nhiều dự án giao thông hiện nay như: đội vốn, chậm tiến độ, không bảo đảm được chất lượng công trình... gây ra những tác động xấu về kinh tế, xã hội, an toàn, an ninh quốc gia.

Thứ ba, lựa chọn nhà thầu phải nhìn lại lịch sử của từng nhà thầu khi tham gia vào dự án. Với những nhà thầu từng thực hiện dự án trên lãnh thổ Việt Nam hoặc kể cả với những dự án quốc tế mà để xảy ra những sai phạm mang tính cốt yếu như không đảm bảo đầy đủ năng lực như cam kết, tìm cơ kéo dài thời gian, đội vốn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế, kỹ thuật hoặc có nguy cơ đe dọa tới an toàn, an ninh quốc phòng thì phải loại ngay từ đầu, không cần đắn đo, cân nhắc. Việc xem xét trừ điểm chỉ áp dụng đối những trường hợp mắc lỗi mang tính hành chính, lỗi thông thường, phổ biến, dễ xảy ra, không gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể xem xét trừ điểm tuỳ theo mức độ phạm lỗi.

Loại thẳng nhà đầu tư có “vết”

PV:- Dù lọt qua vòng sơ tuyển vẫn khó lạc quan sẽ lựa chọn được người thực hiện tốt, nhất là tình trạng “thông thầu”, “bán thầu” vẫn chưa được kiểm soát dứt điểm. Trong trường hợp này, theo ông, phải quy định ra sao để tránh tình trạng chọn được nhà thầu tốt nhưng người thực hiện lại kém, không đủ năng lực?

PGS.TS Hoàng Văn Cường:- Về câu chuyện bán thầu, đây là thực tế và cần phải đặc biệt quan tâm. Về nguyên tắc, nhà thầu trúng thầu trong đó chỉ rõ những phần việc được huy động nhà thầu phụ thì việc trúng thầu  rồi bán lại các phần việc đã xác định cho nhà thầu phụ thi công dự án không vi phạm quy định pháp luật, tuy nhiên việc bán thầu có nằm trong phần các hợp phần qui định hay không cũng là vấn đề gây khó khăn cho công tác giám sát, quản lý.

Do đó, khi lựa chọn nhà thầu cũng cần rà soát lại quá khứ của các nhà thầu từng tham gia vào các dự án lớn và đã từng dính "vết" bán thầu không thuộc hợp phần thoả thuận trước hoặc giả mạo trong lập hồ sơ liên danh dự thầu? Việc bán thầu cũng cần được nhìn nhận từ nhiều phương diện khác nhau.

Nếu một nhà thầu sau khi trúng thầu nhưng không có đủ năng lực tài chính cũng như năng lực kỹ thuật để thực hiện dự án phải bán lại dự án cho một nhà thầu khác có năng lực, trình độ kém hơn thì nhà thầu này phải được liệt vào danh sách có sai phạm nghiêm trọng, phải loại thẳng, không được phép tham gia.

Thực tế, theo quy định, khi lập hồ sơ mời thầu luôn có hướng dẫn cụ thể việc sử dụng thầu phụ. Theo đó, nhà thầu chính khi lập hồ sơ đề xuất phải đệ trình danh sách thầu phụ, trong đó có dự kiến sử dụng, giá trị, khối lượng công việc, hạng mục gói thầu nào nhà thầu phụ được thực hiện.

Đặc biệt, phải có quy định ràng buộc rất chi tiết buộc nhà thầu chính phải thực hiện các hạng mục cốt lõi và chỉ được chuyển nhượng những hạng mục không quan trọng. Bên cạnh đó, tỉ lệ phần trăm chuyển nhượng trong mỗi gói thầu cũng phải được quy định rất cụ thể, nếu nhà thầu chính vi phạm sẽ phải chịu xử lý kịp thời, thậm chí sai phạm nghiêm trọng thì bị buộc chấm dứt hợp đồng, yêu cầu bồi thường kinh tế...

Vấn đề quan trọng là khi xây dựng hồ sơ và các điều kiện chào thầu, chúng ta có xây dựng được các điều khoản cam kết, có đưa ra được những điều kiện ràng buộc đủ chặt chẽ để ràng buộc các nhà thầu chính, buộc các nhà thầu chính phải thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm hay không? Trong trường hợp có đủ quy định, đủ các điều kiện ràng buộc nhưng nhà thầu vi phạm thì cơ chế xử lý như thế nào? Ngược lại, nếu việc sai phạm xảy ra là do các điều khoản trong hợp đồng thiếu chặt chẽ, thiếu tính ràng buộc thì đó là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị tư vấn chuyên môn và các cơ quan tham mưu phải chịu trách nhiệm.

PV:- Trong số gần 60 hồ sơ của nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia thì có tới 36 hồ sơ của doanh nghiệp, liên danh nước ngoài, chủ yếu đến từ Hàn Quốc, Trung Quốc; chỉ có hai nhà đầu tư đến từ Pháp. Đáng nói, dù là hai nhà đầu tư lớn từng thực hiện rất nhiều dự án trọng điểm tại Việt Nam nhưng hầu hết các dự án liên quan tới hai nhà thầu này đều có vấn đề (đội vốn, chậm tiến độ, chất lượng không bảo đảm). Nếu nhìn vào danh sách các nhà thầu tham gia, theo ông, có thể yên tâm được không, cần lưu ý những gì?

PGS.TS Hoàng Văn Cường:- Rõ ràng, khi nhìn vào lịch sử thực hiện các dự án và đã thấy các dự án được thực hiện đều có vấn đề, trong đó có những vấn đề rất nghiêm trọng, gây bức xúc như dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, mà bây giờ lại để cho các nhà thầu của các quốc gia này đã “có vết” tham gia vào một dự án trọng điểm, có vai trò rất quan trọng như dự án cao tốc Bắc – Nam thì thật khó có thể khiến người ta yên tâm được. Đặc biệt là với những nhà thầu từng trực tiếp thực hiện dự án và gây ra nhiều sai phạm.
 
Đây là lý do tôi muốn khẳng định quan điểm cần có một nguyên tắc nhất quán ngay từ đầu là loại thẳng những nhà đầu tư có có sai phạm nghiêm trọng, có “vết” mang tính cốt lõi khỏi danh sách dự tuyển.

Mặt khác, cũng cần rà soát lại toàn bộ nguyên nhân dẫn tới những sai phạm của dự án là do đâu? Nếu sai phạm do những sơ hở trong giám sát, quản lý hoặc do quá trình xây dựng các điều khoản cam kết trong hợp đồng còn lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ, dẫn tới việc ký kết hợp đồng gây bất lợi, tạo điều kiện cho nhà thầu lợi dụng làm sai, đẩy dự án đến sai phạm thì không chỉ xử lý loại bỏ nhà thầu mà phải xem xét xử lý trách nhiệm đối với những người có trách nhiệm trong việc để tạo ra những lỗ hổng, những điểm thiếu chặt chẽ bất lợi cho chủ đầu tư, tạo lợi thế cho nhà thầu trong việc xây dựng đầu bài thầu, và hợp đồng dự án để không chỉ rút kinh nghiệm mà còn là làm gương cho việc thiết kế các gói thầu làm đường cao tốc này.

Chọn thầu cao tốc Bắc-Nam: Phải tỉnh hơn!

Tận dụng sức mạnh kết nối

PV:- Điểm sáng trong số danh sách các nhà đầu tư dự thầu là có rất nhiều nhà đầu tư trong nước tham gia với tư cách độc lập hoặc liên danh với nhau, liên danh với nhà đầu tư nước ngoài. Điển hình ở dự án thành phần đoạn Nha Trang - Cam Lâm, có 8 nhà đầu tư dự sơ tuyển thì có Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Phương Thành và Công ty CP Tập đoàn Hùng Thắng cũng tham dự với tư cách thành viên của 2 liên danh do nhà đầu tư Trung Quốc đứng đầu. Với những trường hợp như vậy thì cần phải xem xét thế nào? Việc các nhà thầu trong nước tham gia được vào dự án sẽ tạo ra hiệu ứng như thế nào? Làm sao để doanh nghiệp trong nước tham gia được, thưa ông?

PGS.TS Hoàng Văn Cường:- Ở đây có hai vấn đề.

Trước hết cần khẳng định, chúng ta không phân biệt bất kỳ nhà đầu tư nào khi đầu tư vào Việt Nam, do đó, cũng không phân biệt việc nhà đầu tư trong nước liên kết, liên danh với nhà đầu tư nước nào để thực hiện dự án. Mục tiêu của việc liên kết với nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, hỗ trợ các nhà đầu tư thực hiện dự án tốt hơn, hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, quay trở lại nguyên tắc đã được tôi nhắc đi nhắc lại suốt từ đầu đó là: không để cho một nhà đầu tư duy nhất hay một nhà đầu tư của một quốc gia duy nhất nào nắm quyền chi phối, hay nắm vai trò khống chế trong dự án này.

Như vậy, với trường hợp nhà đầu tư trong nước liên kết với các nhà đầu tư Trung Quốc, trước hết phải xem xét trong cơ cấu liên danh đó nhà đầu tư nào sẽ nắm vai trò quyết định.

Tôi lấy ví dụ, tại gói thầu Nha Trang - Cam Lâm, nếu liên danh nhà đầu tư trong nước và Trung Quốc thắng thầu nhưng nhà đầu tư Trung Quốc nắm giữ tới 80% thành phần các hạng mục dự án, nhà đầu tư trong nước chỉ tham gia được 20%, như vậy, nhà đầu tư Trung Quốc chính là nhà thầu nắm vai trò chi phối tại gói thầu này.

Trên cơ sở xác định được như vậy, gói thầu này là gói thầu do nhà đầu tư Trung Quốc làm nhà thầu chính và nhà thầu này sẽ không được tham gia vào bất kỳ một gói thầu nào khác, cũng không được thực hiện liên danh với các nhà thầu khác để tham gia vào các dự án thành phần khác.

Tiếp theo, quan điểm của tôi là không vì mong muốn có được một dự án cao tốc của riêng mình mà hạ thấp các tiêu chuẩn để cho doanh nghiệp trong nước được tham gia bằng mọi giá.

Như đã khẳng định, một sản phẩm được tạo ra phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. Không thể xây dựng một dự án bằng tình cảm, chấp nhận mạo hiểm, rủi ro, chấp nhận dễ rãi lúc lựa chọn nhà tầu để rồi cuối cùng phải trả giá đắt cho cả dự án.

Mong muốn có một con đường cao tốc do chính các doanh nghiệp trong nước tự mình xây dựng lên là mong ước chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, nếu làm lên một dự án nhưng không đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng, không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật để xảy ra tai nạn, hư hỏng, lãng phí, tốn kém thì hậu quả thật là khôn lường và không thể chấp nhận.

Ngược lại, doanh nghiệp trong nước có đủ nội lực, đủ trình độ kỹ thuật nhưng còn đang bị vướng bởi các cơ chế cạnh tranh mà không tham gia được sẽ lại là vấn đề khác. Ở đây là câu chuyện thuộc về cơ chế, chính sách trong việc đặt ra các ngưỡng tiêu chuẩn trong lựa chọn nhà thầu. Trong trường hợp này, tùy từng vấn đề có thể mở tự do hoặc đặt ra các qui định đặc thù để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có cơ hội được thử sức. Tất nhiên, việc mở hay đóng cũng phải phù hợp với bối cảnh hội nhập cũng như không đi ngược với các quy định nằm ting thoả thuận chung của các hiệp ước quốc tế.

Ví dụ, nếu chúng ta lấy tiêu chí năng lực và kinh nghiệm làm tiêu chí cốt lõi và chấm điểm luỹ tiến theo mức độ đạt được. Rõ ràng, nếu chấm điểm theo tiêu chí như thế thì thực tế doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh được với nhà thầu nước ngoài.

Chúng ta hoàn toàn có thể đặt ra các quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm ở mức cơ bản vừa bảo đảm được yêu cầu về chất lượng công trình, đồng thời không khuyến khích hoặc tạo ưu thế ho các doanh nghiệp có khả năng vượt trội. Như thế, những doanh nghiệp Việt Nam có đủ năng lực bằng mức yêu cầu tối thiểu đều có vị thế ngang bằng với các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực mạnh hơn, và như thế thì các doanh nghiệp trong nước có đủ điều kiện có thể tham gia. Như vậy, chỉ cần doanh nghiệp trong nước đáp ứng được chuẩn kỹ thuật cơ bản này thì đều có cơ hội cạnh tranh ngang bằng với doanh nghiệp nước ngoài.

Với việc quy định như vậy sẽ giúp chúng ta vẫn lựa chọn được nhà thầu đủ năng lực nhưng cũng đồng thời giúp loại bỏ tâm lý lấy tiêu chí làm rào cản nhằm loại bớt những nhà thầu trong nước.

Thêm vào đó, cần thấy rằng, đây là dự án của Việt Nam, đầu tư cho người tiêu dùng Việt Nam, do đó, cũng cần đòi hỏi về mặt am hiểu xã hội, con người và kinh nghiệm tiếp cận các điều kiện triển khai dự án của Việt Nam đối với các nhà thầu tham gia. Xét trên các tiêu chí này, bắt buộc những nhà đầu tư nước ngoài chưa từng thực hiện dự án ở Việt Nam sẽ buộc phải liên kết, liên danh với nhà đầu tư trong nước để thực hiện.

Tóm lại, điều tôi muốn nói là chúng ta có rất nhiều điều kiện, tiêu chí có lợi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia được mà vẫn không vi phạm các quy định, điều khoản cạnh tranh theo thỏa thuận quốc tế.

Vấn đề tôi quan tâm nhiều hơn là tính kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước chưa được tốt. Nếu nhìn vào năng lực thực tế, tôi tin có nhiều doanh nghiệp trong nước có đủ thực lực, đủ trình độ để thực hiện dự án này. Thực tế, đã có rất nhiều công trình kỹ thuật cao như hầm đường bộ qua núi, các dự án cầu bắc qua sông mà các doanh nghiệp trong nước đã làm được và làm rất tốt.

Nếu các doanh nghiệp trong nước biết bắt tay, liên kết được với nhau sẽ cùng lúc giải quyết được rất nhiều mục tiêu và mang lại nhiều ý nghĩa.

Việc liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước sẽ tạo ra sức mạnh bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành tiềm lực lớn đủ sức cạnh tranh với các nhà thầu nước ngoài để đảm nhận làm chủ các dự án. Điều quan trọng hơn, các doanh nghiệp bắt tay để cùng tạo ra được một sản phẩm của ta làm cho ta. Đó là niềm tự hào của cả người làm ra và người sử dụng nó.

Thông qua dự án đường cao tốc Bắc Nam, đây cũng là dấu mốc nhằm đánh giá lại năng lực của từng doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào có thực lực, có tiềm năng, các doanh nghiệp biết bắt tay kết hợp với nhau thì sẽ ngày càng phát triển và trưởng thành hơn. Ngược lại, với những doanh nghiệp không có thực lực sẽ phải lựa chọn hướng đi khác vì có tồn tại cũng không thể cạnh tranh được. Qua đây cũng tạo ra một sức ép với các doanh nghiệp trong nước muốn tồn tại, phát triển và cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài thì phải nghĩ tới hướng phát triển dài hạn, phải biết đoàn kết, liên kết với nhau một cách bài bản, phát triển dựa trên nền tảng năng lực và uy tín để hỗ trợ nhau cùng phát triển.

PV:- Xin cảm ơn ông!

  • Vũ Lan (thực hiện)