Tranh luận nóng

Chủ đầu tư Việt thoát bồi thường nhà thầu TQ: Cảnh tỉnh

Thứ Hai, 02/12/2019 13:56

(Doanh nghiệp) - Vụ VSH thoát bồi thường cho nhà thầu Trung Quốc hơn 2.000 tỷ đồng là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ cho doanh nghiệp Việt khi làm ăn với Trung Quốc.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) nhận xét như vậy khi trao đổi với Đất Việt về vụ Công ty CP Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh (VSH)thoát bồi thường cho nhà thầu Trung Quốc hơn 2.000 tỷ đồng.

PV: - Vừa qua, Công ty CP Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh (VSH) đã thoát án bồi thường cho nhà thầu Trung Quốc 2.163 tỷ đồng tại dự án thủy điện Thượng Kon Tum.

Trước đó, năm 2010, tổ hợp nhà thầu gồm Viện Thiết kế Hydro China Huadong và Công ty TNHH Cục Đường sắt số 18 Trung Quốc ký hợp đồng xây dựng hạng mục Tuyến năng lượng của dự án thủy điện Thượng Kon Tum, nhưng sau đó dừng công việc do cho rằng chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, còn phía chủ đầu tư lại cho rằng nhà thầu vi phạm nghiêm trọng hợp đồng do chậm trễ thi công.

Năm 2014, phía nhà thầu Trung Quốc kiện VSH lên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) và tháng 4/2019 được VIAC tuyên thắng kiện, buộc VSH phải thanh toán và bồi thường 2.163 tỷ đồng.

Tuy nhiên, ngày 14/11, TAND TP Hà Nội đã quyết định hủy toàn bộ phán quyết trên của VIAC.

Ông chia sẻ thế nào với tin vui của VSH sau nhiều năm giải quyết tranh chấp hợp đồng với nhà thầu Trung Quốc? Từ vụ việc này, ông nhìn nhận thế nào về khả năng phía Việt Nam có thể kiện nhà thầu Trung Quốc đối với những dự án kém chất lượng, chậm tiến độ?

Chu dau tu Viet thoat boi thuong nha thau TQ: Canh tinh
PGS.TS Nguyễn Văn Nam

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Việc TAND TP Hà Nội quyết định hủy toàn bộ phán quyết của VIAC, mà theo đó buộc VSH phải bồi thường số tiền tương đương 2.163 tỷ đồng cho tổ hợp nhà thầu Trung Quốc, đúng là tin vui đối với VSH, nhưng nó cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam, các địa phương cũng như các bộ ngành không được dễ dãi trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng với doanh nghiệp nước ngoài, nhất là doanh nghiệp Trung Quốc.

Doanh nghiệp Việt Nam phải nắm cho vững luật lệ quốc tế để tránh sai sót hay bị hớ khi soạn thảo hợp đồng. Khi đã ký hợp đồng rồi thì phải đôn đốc thực hiện, làm cho nghiêm túc.

Hợp đồng kinh tế là trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ... đã được quy định trong đó, cứ thế mà thực hiện, không có chuyện gặp gỡ động viên, nhắc nhở nhau theo kiểu “người nhà” như bấy lâu vẫn xảy ra ở Việt Nam. Chúng ta tuyệt đối không thể nhầm lẫn điểm này, bởi khi làm ăn xảy ra kiện cáo, tòa chỉ căn cứ vào hợp đồng để phân xử. Hợp đồng chúng ta ký nếu có sơ hở, điều khoản chung chung, thiếu rõ ràng, cụ thể, nhất là thiếu ràng buộc trách nhiệm thì cuối cùng chỉ có chúng ta chịu thiệt.

Hàng chục năm trước, kinh nghiệm từ các dự án có liên quan đến Trung Quốc cho thấy, doanh nghiệp Trung Quốc thường cố tình nhập nhèm giữa cái gọi là anh em, bạn bè với luật lệ. Khi gặp gỡ họ có thể mời mọc thân tình, nhưng đến lúc làm ăn thì rất “sát ván”, nếu phía Việt Nam sai thì sẽ bị phạt nặng nề.

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông là kinh nghiệm đắt giá cho Việt Nam khi làm ăn với doanh nghiệp Trung Quốc. Dự án ấy có sơ hở lớn khi không ràng buộc rõ trách nhiệm của tổng thầu. Vậy nên công trình cứ chậm tiến độ, đội vốn, phía Bộ GTVT chỉ biết kêu gọi, yêu cầu họ thực hiện mà không làm được gì hay có bất cứ chế tài nào để xử lý.

Còn nhớ vào những năm 1970, dự án cầu Thăng Long - cây cầu thứ hai bắc qua sông Hồng ở Hà Nội sau cầu Long Biên, được Trung Quốc xây dựng trong thời kỳ đầu. Tuy nhiên, được khoảng 20% khối lượng công trình thì họ ngừng lại. Đến cuối năm 1978, Liên Xô đã giúp ta xây dựng tiếp cho đến khi hoàn thành.

Mấy chục năm qua, còn biết bao dự án khác có liên quan đến nhà thầu Trung Quốc cũng “chết” giữa chừng như: Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Gang thép Thái Nguyên, nhà máy Đạm Ninh Bình, Dự án cải tạo, mở rộng nhà máy sản xuất đạm Hà Bắc...

Tôi không rõ doanh nghiệp và chủ đầu tư ở Việt Nam có thể nhìn vào những bài học đắng ấy mà rút ra được kinh nghiệm gì hay không.

PV: - Từ vụ kiện giữa Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh với nhà thầu Trung Quốc, ông nhìn thấy lợi thế gì của doanh nghiệp tư nhân khi tham gia đấu tranh pháp lý với phía doanh nghiệp Trung Quốc? Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam nên lưu ý gì khi thương thảo và ký kết hợp đồng với phía Trung Quốc?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Khi đã ra tòa hay trung tâm trọng tài quốc tế thì không phân biệt doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Tòa án hay trọng tài đều căn cứ vào hợp đồng để phân xử, nếu hợp đồng sơ hở mà doanh nghiệp Việt Nam vẫn ký thì phải chịu.

Câu hỏi dư luận vẫn đặt ra bấy lâu nay là, khi Trung Quốc rót vốn vào Việt Nam, họ có thực sự muốn giúp đỡ chúng ta hay không? Doanh nghiệp Trung Quốc sẵn sàng tham gia tất cả các dự án từ lớn đến bé, từ rừng sâu đến ven biển... Khi họ nắm được dự án thì lại kéo dài không biết đến bao giờ mới hoàn thành. Vậy họ nắm dự án để làm gì? Có hay không mục đích muốn ta phụ thuộc vào họ?

Trung Quốc có thế mạnh về vốn, Việt Nam lại thiếu vốn nên nhiều khi chấp nhận cả những điều kiện lép vế với họ. Vốn Trung Quốc rót nhưng Việt Nam phải chạy đi chạy lại, xin lên xin xuống, dự án đội vốn thì đi xin thêm tín dụng, lại phải chờ Chính phủ Trung Quốc duyệt. Đó là những bài học quá đắt giá mà dường như các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa rút ra được, mà trong đó có một phần nguyên nhân là do một số người liên quan đến dự án hám lợi riêng mà quên đi lợi ích chung.

PV: - Một điểm đáng lưu ý, các dự án liên quan tới Trung Quốc ở Việt Nam đa phần nằm trong khu vực kinh tế nhà nước, chẳng hạn Tập đoàn Hóa chất Việt Nam có 3 dự án tai tiếng gắn với tổng thầu Trung Quốc (nhà máy sản xuất phân bón đạm Ninh Bình, mở rộng sản xuất đạm Hà Bắc, nhà máy sản xuất phân bón DAP2 Lào Cai). Điều này có khiến việc khởi kiện trở nên khó khăn hơn không, đồng thời phải cân nhắc khởi kiện thế nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Như đã nói, khi ra tòa hay trung tâm trọng tài quốc tế, chỉ có hai chủ thể - bị đơn và nguyên đơn, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân.

Có điều ở Việt Nam cách đây mấy chục năm có thông lệ những dự án lớn, làm với nước ngoài đều giao cho doanh nghiệp nhà nước, về sau này doanh nghiệp tư nhân mới được thực hiện.

Vấn đề ở chỗ, những người quản lý doanh nghiệp nhà nước không phải là doanh nhân thực sự, tiền của, tài sản ở doanh nghiệp không phải của họ mà là của Nhà nước, họ đại diện cho phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp, nhưng nhiều khi họ đặt lợi ích cá nhân lên cao quá. Trong khi đó, không ít doanh nghiệp nước ngoài, nhất là doanh nghiệp Trung Quốc, lại sẵn sàng đáp ứng lợi ích cá nhân ấy bởi so với chi phí của toàn bộ dự án, phần chi phí không chính thức ấy không đáng là bao, mà sau cùng nó cũng sẽ được tính vào chi phí dự án.

Cuối cùng, dự án triển khai, khi xảy ra trục trặc thì “khó ăn khó nói”, không thể làm gì được. 

Có dự án làm xong từ lâu mà dư luận vẫn ấm ức, mà dự án sân vận động quốc gia Mỹ Đình là ví dụ. Đó là một trong những siêu dự án do nhà thầu Trung Quốc thực hiện để lại nhiều tai tiếng.

Cụ thể, năm 2001, Công ty Hanoi International Group - HISG (Trung Quốc) một nhà thầu chưa có kinh nghiệm xây dựng công trình lớn đã trúng thầu dự án sân vận động Mỹ Đình. Dự án có tổng vốn đầu tư 69 triệu USD, trong đó gói thầu của công ty Trung Quốc chiếm tới 59 triệu USD. Kể từ khi đi vào hoạt động năm 2003, công trình liên tục có dấu hiệu xuống cấp nặng. Sau đó, phía vận hành đã phải chi thêm hàng chục tỷ đồng để đại tu và sửa chữa công trình.

Đáng chú ý, theo hợp đồng ký kết, toàn bộ thiết bị vật tư phải có xuất xứ từ Tây Âu và Mỹ. Nhưng Thanh tra Chính phủ lại phát hiện tới 94% thiết bị sử dụng trong dự án đã bị thay đổi với giá trị 17 triệu USD, trong đó 5,49 triệu USD là các thiết bị không rõ nguồn gốc. HISG thậm chí còn ký hợp đồng với nhà thầu phụ với đơn giá rất thấp, hưởng chênh lệch hàng triệu USD.

Cái kém của ta chính là ở chỗ này: giao dự án cho doanh nghiệp nhà nước với cán bộ quản lý đại diện cho lợi ích nhà nước ở đó, nhưng trong hành xử lại đặt lợi ích cá nhân lên làm đầu.

Rõ ràng, trong quản lý kinh tế nhà nước ta còn bộc lộ nhiều sơ hở, từ luật pháp đến thực thi luật pháp, thực thi dự án.

Chu dau tu Viet thoat boi thuong nha thau TQ: Canh tinh
Dự án Thủy điện Thượng Kon Tum

PV: - Trong trường hợp buộc phải lựa chọn giải pháp pháp lý, theo ông, nhóm doanh nghiệp nhà nước cần làm gì để giành được lợi thế, chẳng hạn, xử lý nghiêm sai phạm của những cán bộ liên quan đến quá trình thương thảo, ký kết hợp đồng?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam:  - Rất khó làm như vậy vì việc phân xử của tòa án/ trọng tài quốc tế và xử lý nội bộ là hai việc khác nhau. Tòa án/ trọng tài quốc tế chỉ căn cứ vào luật, vào hợp đồng, vào việc thực hiện hợp đồng có đúng không, còn chuyện thanh minh, giải trình, tình cảm... không có ý nghĩa gì ở tòa. Ngay cả chuyện phía Việt Nam chứng minh được có móc ngoặc thì cũng chỉ để xử lý nội bộ mà thôi. Nếu phía Việt Nam làm không đúng hợp đồng thì không có cách nào thanh minh, bào chữa được.

Doanh nghiệp tư nhân làm dự án thì chắc chắn sẽ đỡ sơ hở, đỡ thiệt thòi, vì với tư nhân, đó là tiền, là lợi ích của họ nên họ phải bảo vệ. Còn với doanh nghiệp nhà nước, đó không phải là tiền của họ, lợi ích không phải của họ, hoặc chỉ có một phần rất nhỏ, thì khi mất đi liệu mấy ai quan tâm?

PV: - Xét cho cùng, khởi kiện chỉ là biện pháp cuối cùng để giải quyết những vướng mắc pháp lý, trên hết vẫn phải ưu tiên hòa giải, thương lượng. Để tránh thua thiệt, trong khâu thương thảo, ký kết hợp đồng, doanh nghiệp Việt phải lưu ý những gì, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Doanh nghiệp Việt phải am hiểu luật lệ quốc tế tốt hơn, nếu không thì phải thuê chuyên gia làm. Tôi nhớ lần đầu tiên thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Canada, dù đã thống nhất rồi nhưng trước khi ký hợp đồng, phía Việt Nam vẫn phải thuê luật sư giỏi của chính nước đó ngồi đọc kỹ, đối chiếu với luật lệ, sửa từng câu từng chữ để trong trường hợp xảy ra tranh chấp, Việt Nam không bị thua thiệt.

Những việc ấy chúng ta đã làm cách đây mấy chục năm, tại sao bây giờ lại không thể làm việc với tinh thần trách nhiệm ấy?

Một luật sư tại TP.HCM, trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (đề nghị không nêu tên):

Việc TAND TP Hà Nội quyết định hủy toàn bộ phán quyết của VIAC, theo đó Công ty CP Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh không phải bồi thường số tiền 2.163 tỷ đồng cho tổ hợp nhà thầu Trung Quốc, đã đưa vụ việc quay trở lại vạch xuất phát.

Về mặt pháp lý, đối với tố tụng trọng tài hay tố tụng tòa án đều không có sự phân biệt thành phần doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước, tất cả đều bình đẳng như nhau. Do vậy, tôi không nghĩ doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước có lợi thế gì khi ra trước tòa/trọng tài.

Để khởi kiện được thì phải căn cứ vào hợp đồng. Chẳng hạn, nếu hai bên muốn giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại qua Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) thì trong hợp đồng ký kết trước đó, điều khoản giải quyết tranh chấp phải dẫn chiếu đến là giải quyết tại VIAC, nếu không phải đưa ra tòa án.

Giả sử khi đưa ra giải quyết tranh chấp tại tòa hay trọng tài, một trong hai bên phát hiện có những thỏa thuận chứa đựng nội dung bị nhầm lẫn, hay bị cưỡng ép, hay bị mua chuộc và đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc thua thiệt trong giải quyết tranh chấp thì có quyền yêu cầu tòa án hay trọng tài tuyên rằng điều khoản đó vô hiệu. Chính vì thế, tôi không nghĩ có chuyện giành lợi thế từ những chuyện này.

Để tránh xảy ra thua thiệt khi làm ăn với đối tác nước ngoài, đặc biệt khi đặt bút ký vào những hợp đồng có giá trị hàng ngàn tỷ đồng như hợp đồng EPC (Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình), doanh nghiệp Việt Nam phải lưu ý tất cả mọi điều, không thể nói nặng điểm này, nhẹ điểm kia.

Riêng điều khoản giải quyết tranh chấp, xét về lẽ công bằng, giải quyết tranh chấp ở tòa án hay trọng tài thương mại đều như nhau. Chỉ có điều, tố tụng trọng tài có điểm khác biệt rất lớn đối với tòa án, đó là: tố tụng trọng tài chỉ xử có 1 cấp, còn tòa án xét xử 2 cấp. Bản án của trọng tài có hiệu lực ngay lập tức, trong khi đó tố tụng tòa án có 2 cấp, bản án được tuyên ở cấp sơ thẩm, mọi người đều có quyền kháng cáo để xử thêm một lần nữa. Hành trình ở tòa án dài hơn, xét xử ở tòa án công khai, còn xét xử trọng tài bí mật.

Như vậy, giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại không phải là ý tưởng tồi hay bất công gì hết, thậm chí đó là ý tưởng rất tiến bộ, một thành tựu của loài người vì nó tiết kiệm rất nhiều tiền bạc, công sức và thời gian cho doanh nghiệp, lại giữ bí mật cho doanh nghiệp.

Thành Luân