Tranh luận nóng

Nợ công đạt đỉnh năm 2017: Thừa nhận nhưng chưa đủ...

Thứ Tư, 07/06/2017 07:14

(Tài chính) - Phải thay đổi cơ chế chính sách thì mới để DNNN tự vay tự trả. Còn vẫn cứ mù mờ như hiện nay thì phải tính nợ DNNN vào nợ công.

Chưa đủ

Trước phát biểu của đại diện Bộ Tài chính về việc nợ công Việt Nam có thể sẽ đạt đỉnh vào năm nay với mức nợ có thể tiến sát ngưỡng 65% GDP, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Trưởng Bộ môn Quản trị Tài chính Quốc tế, khoa Tài chính Quốc tế (Học viện Tài chính) cho rằng, cơ quan chức năng đã nhìn thẳng vào sự thật nhưng chưa đủ.

Cụ thể, từ trước đến nay Việt Nam có kế hoạch ngắn hạn và trung hạn về nợ công trong kế hoạch vay nợ chung của Nhà nước. Tuy nhiên, nợ công của Việt Nam hiện nay không tính nợ DNNN.

Trong khi đó, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế và ĐBQH, nếu tính nợ DNNN vào nợ công thì nợ công của Việt Nam sẽ rất cao.

No cong dat dinh nam 2017: Thua nhan nhung chua du...
Ba dự án ethanol của Tập đoàn dầu khí, mỗi dự án có vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, cái dở dang, cái chết lâm sàng

Ông Thịnh cho biết, trên thế giới có 2 quan điểm về nợ công:

Thứ nhất, một số quốc gia tính nợ công gồm 4 khoản: nợ vay của chính phủ, nợ vay của chính quyền địa phương, nợ chính phủ đứng ra bảo lãnh hoặc ủy quyền cho các cơ quan của chính phủ bảo lãnh, nợ doanh nghiệp. Đây là cách tính chung của IMF, WB.

Thứ hai, các quốc gia khác lại tính nợ công gồm 3 khoản: nợ vay của chính phủ, nợ vay của chính quyền địa phương và nợ chính phủ đứng ra bảo lãnh. Cách hiểu này gạt nợ DNNN ra khỏi nợ công.

Tuy nhiên, theo quan điểm của vị chuyên gia, nếu Việt Nam tính theo cách gạt nợ DNNN khỏi nợ công thì phải chỉnh sửa và có những cơ chế thay đổi.

"Theo Luật Doanh nghiệp, DNNN được xác định là doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước. Ngoài việc DNNN được bảo lãnh của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ khi đi vay nợ, ngay cả khi DNNN tự vay tự trả thì lấy gì ra để đảm bảo tài sản tiền vay cho các đối tác cho vay, kể cả trong nước và nước ngoài?

Ví dụ, trước đây, ngân hàng thường cho DNNN vay theo hình thức tín chấp vì đó là những DNNN và theo các chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền.

Còn nếu vay nước ngoài, trước nay hầu hết doanh nghiệp Việt đi vay đều có bảo lãnh chính phủ. Nếu tự vay tự trả thì họ lấy tài sản gì để làm bảo đảm cho tiền vay? Nếu doanh nghiệp không trả được nợ thì đương nhiên họ phải tuyên bố phá sản nhưng tài sản đó là 100% vốn Nhà nước thì rõ ràng phải có cách xử lý thế nào với tài sản đó?

Như vậy, Việt Nam phải thay đổi cơ chế, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm với khoản vay và các tài sản đó. Lúc đó mới có thể tự vay tự trả được.

Một trường hợp khác, nếu ngân hàng cho vay hoặc DNNN phát hành trái phiếu trên thị trường, bán cho nhân dân, khi doanh nghiệp không trả được nợ, phải phá sản thì cách thức đền bù thế nào vì tài sản đó là tài sản nhà nước?

Chừng nào chưa làm rõ được các vấn đề này thì DNNN không bao giờ có thể tự vay tự trả, kể cả ở thị trường vốn trong nước và vốn quốc tế.

Còn nếu vẫn mù mờ như hiện nay thì phải xem lại phương án nợ DNNN phải tính vào nợ công", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh phân tích.

Bởi thế, trở lại phát biểu của Bộ Tài chính, PGS Thịnh đánh giá, thừa nhận đó là chưa đủ dù đã nhìn thẳng vào sự thật. Phải tính nợ DNNN vào nợ công thì mới hợp lý.

Nợ giảm dần chỉ là kế hoạch nếu...

Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, dựa vào kế hoạch vay nợ có thể thấy Việt Nam đang phải tiếp tục vay nợ để trả nợ, tức tái cấu trúc lại các khoản nợ, đặc biệt là nợ nước ngoài.

Theo tính toán của Chính phủ, nợ công Việt Nam có thể sẽ đạt đỉnh vào năm 2017-2018 với mức nợ có thể tiến sát ngưỡng 65% GDP, sau đó sẽ giảm dần trong các năm sau để dần đưa mức nợ công xuống trong 10-15 năm tới.

"Tuy nhiên, để nợ công giảm dần thì song song với việc trả nợ đều, Việt Nam phải giảm dần vay nợ, nếu không, đó sẽ chỉ là kế hoạch, là lời nói mà thôi", ông Thịnh nhấn mạnh. 

Muốn vậy, Việt Nam phải thay đổi ngay từ cách thức xét duyệt, quản lý nợ công để nợ không phình lên như thời gian qua. Nếu nợ công vẫn tiếp tục phình to thì năm 2017-2018 chưa phải đỉnh nợ. Nói cách khác, nó chỉ là đỉnh của một khoảng thời gian, chưa chắc đã là đỉnh của một thời kỳ nợ vay.

Từ đây, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh lưu ý, việc vay nợ của Việt Nam phải được xem xét chặt chẽ đối với tất cả các dự án. Việc xét duyệt, công trình nào được vay, ai vay để tính vào nợ công phải được thực hiện thận trọng, chặt chẽ và kỹ lưỡng thì mới giảm được vay nợ.

Kéo theo đó, đầu  tư công, các chi tiêu công, kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển phải được xiết chặt và giảm đi.

"Trước nay, Việt Nam xác định nợ vay tương đối đơn giản và mang tính chất cơ học. Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cộng dồn các đề nghị vay vốn của các bộ, ban, ngành, địa phương thành nhu cầu vay vốn của nền kinh tế. 

Việc xem xét ngành nào, địa phương, dự án, công trình nào cần đi vay và bố trí bằng ngân sách nhà nước ra sao, vay thế nào, sử dụng ra sao..., Việt Nam làm chưa tốt.

Mặt khác, người đứng ra vay không phải là người theo dõi quản lý cả quá trình vay nợ và không phải chịu trách nhiệm trả nợ nên họ chỉ biết vay. 

Chính vì thế, sự tách rời giữa quản lý kế hoạch vay nợ với sử dụng và hiệu quả vay nợ,  trả nợ trở thành vấn đề trục trặc Bởi cứ thấy doanh nghiệp, địa phương hoặc các bộ có nhu cầu là cơ quan chức năng đi vay, nên nợ vay lớn rất nhanh, mỗi năm lên mấy chục phần trăm trong khi hiệu quả trả nợ không có", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh chỉ rõ. 

Thành Luân