Tranh luận nóng

Nội địa hóa dệt may gần 50%: Động viên là chính?

Thứ Hai, 11/02/2019 07:28

(Thị trường) - Về mặt tinh thần có thể động viên nhau, nhưng về mặt kinh tế và kỹ thuật, ngành dệt may vẫn còn một chặng đường vất vả.

Ghi nhận những bước tiến trong công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam thông qua tỷ lệ nội địa hóa (40-45%) của ngành nhưng PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, con số ấy vẫn mang tính "động viên là chính".

Lý giải cho quan điểm của mình, ông Nam cho biết, so với 10 năm trước, ngành dệt may đã cải thiện thêm được một bước nhưng công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam vẫn còn yếu, và những việc còn lại ở phía trước đều là việc khó, không dễ gì làm được.

Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu  Thương mại dẫn ví dụ, sợi của Việt Nam đã cải thiện được rất nhiều, không chỉ cung ứng được trong nước mà còn xuất khẩu.  Thế nhưng, thời gian qua, do cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, việc xuất khẩu sợi của Việt Nam lại bị tắc.

Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu trên 800.000 tấn sợi, đạt kim ngạch khoảng 3 tỷ USD. Đáng chú ý, 90% con số trên đến từ thị trường Trung Quốc. Do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại, nhiều doanh nghiệp sợi trong nước gặp khó vì các khách hàng ở Trung Quốc không nhập hàng, nếu có nhập thì rất ít và cầm chừng.

Trong khi đó, Việt Nam mới chỉ sản xuất được các loại vải thông thường, còn vải cao cấp chưa làm được mấy, chưa kể làm dệt vải không hề dễ, phải đầu tư tốn kém.

Năng lực may mặc của Việt Nam cao nhưng phải nhập khẩu nguyên liệu nhiều. Đối với phụ kiện của dệt may, Việt Nam mới chỉ làm được các loại khuy, khóa kéo bình thường như khuy, khóa nhựa, loại cao cấp vẫn đang là điểm yếu.

Noi dia hoa det may gan 50%: Dong vien la chinh?
Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may đã có nhiều bước cải thiện. Ảnh minh họa

"Rõ ràng, dù có cố gắng đi nữa thì có những mặt hàng của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu may mặc trong nước. Nếu mai này có doanh nghiệp nào giàu có lên, đầu tư khâu dệt thì có thể tiến lên. Còn khâu dệt trước Nhà nước có làm một số nhà máy nhưng rồi cuối cùng bị thất bại. Sợi thì có khá lên, còn phụ kiện thì những loại khó Việt Nam chưa làm được.

Đó là nói riêng công nghiệp hỗ trợ dệt may, còn những ngành như cơ khí thì Việt Nam còn rất yếu, như cơ khí ô tô Việt Nam mới được cung cấp được 8-10% phụ kiện, trong khi đối với mô tô chúng ta lại làm rất khá, cung cấp được đến 70-80%.

Điều đó cho thấy, tùy từng ngành mà công nghiệp hỗ trợ có mức độ phát triển khác nhau, có ngành tiến bộ, có ngành vẫn giậm chân tại chỗ.

Đối với dệt may, Việt Nam có tiến triển, nhưng giai đoạn sau còn khó khăn hơn rất nhiều, đòi hỏi đầu tư vốn, công nghệ lớn mới làm được", PGS.TS Nguyễn Văn Nam đánh giá.

Từ thực trạng của công nghiệp dệt may Việt Nam, một câu hỏi được đặt ra là liệu Việt Nam có cơ hội để tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ cao hay không?

Trả lời vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Văn Nam cho biết, Việt Nam đã làm được những sản phẩm thông thường, còn loại cao cấp, chất lượng cao đòi hỏi thời gian dài.

"Nó không phụ thuộc vào mong muốn của ngành dệt may mà phụ thuộc vào những công nghệ cơ bản như công nghệ cơ khí, công nghệ chất dẻo..., những thứ đó không phải tự nhiên Việt Nam có được. Chúng ta phải mua được công nghệ, đào tạo được người và có vốn đầu tư lớn.

Vì khó khăn như vậy, nên về mặt tinh thần có thể động viên nhau, còn về mặt kinh tế và kỹ thuật, đó là chặng đường vất vả, không đơn giản chút nào", vị chuyên gia nhận xét.

Trong bối cảnh đó, theo nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, không còn cách nào khác, Việt Nam vẫn cứ phải nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, dựa vào công nghiệp hỗ trợ của các nước xung quanh như Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc...

Nhấn mạnh các hiệp định FTA, đặc biệt là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là cơ hội lớn của ngành dệt may, PGS.TS Nguyễn Văn Nam cũng lưu ý, hiệp định này đặt ra các quy tắc xuất xứ, nếu doanh nghiệp Việt Nam không đáp ứng được thì chưa chắc đã được hưởng các ưu đãi của hiệp định.

"Việt Nam vẫn có thể đáp ứng các quy tắc xuất xứ theo yêu cầu của CPTPP với các sản phẩm trung bình, thấp, còn sản phẩm cao cấp phải phấn đấu.

Chẳng hạn, chúng ta đã làm được sợi, vải thông thường thì cứ phát huy rồi nâng cấp dần lên để làm những sản phẩm cao cấp. Khi làm được một vài mặt hàng cao cấp rồi doanh nghiệp Việt có thể tiến lên làm nhiều mặt hàng khác, mặt hàng nào có nhu cầu lớn nhất thì tập trung đầu tư mặt hàng ấy trước.

Dĩ nhiên, điều này phụ thuộc vào sự phối hợp của Nhà nước với các hiệp hội và doanh nghiệp. Nhà nước phải có vốn đầu tư, có chương trình hỗ trợ cụ thể, rõ ràng, mặt khác doanh nghiệp phải quyết tâm và làm cho thật tốt. Đặc biệt, phải có cách làm thiết thực, không phải ném tiền qua cửa sổ, đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước như mấy chục năm trước nếu không cuối cùng chỉ mất tiền, sản phẩm không ra", ông nói.

Cũng theo vị chuyên gia, trước nay, việc nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may của Việt Nam phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc. Khi CPTPP có hiệu lực, doanh nghiệp Việt chỉ còn cách buộc phải đa dạng hóa thị trường, nếu không sẽ phải chịu thua thiệt..

"Doanh nghiệp Việt đừng ham rẻ mà trông vào mỗi thị trường Trung Quốc. Chúng ta có thể hy vọng nay mai một số quốc gia khác vẫn bán nguyên, phụ liệu dệt may cho Việt Nam sẽ gia nhập CPTPP, khi ấy, Việt Nam có thể đáp ứng được quy tắc xuất xứ. Còn nếu trông chờ vào việc Trung Quốc gia nhập CPTPP thì e rằng còn rất lâu bởi Nhật Bản đang là thành viên của khối, trong khi quan hệ Nhật-Trung không mấy suôn sẻ", PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhận xét.

Thành Luân