Tranh luận nóng

Nông sản Việt đứng cạnh hàng Mỹ và băn khoăn sính ngoại

Thứ Bảy, 14/12/2019 08:23

(Thị trường) - Viễn cảnh một người Việt sáng ăn phở bò Mỹ, trưa ăn thịt lợn xứ cờ hoa... đã gần ngay trước cửa.

Thông tin phía Mỹ đề nghị giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng nông sản như thịt gà, hạnh nhân, táo tươi, nho tươi, nho khô, lúa mỳ, óc chó chưa bóc vỏ, khoai tây, thịt lợn, sữa... thoạt tiên được nhiều người đón nhận với niềm phấn khởi. Nếu được chấp thuận, những mặt hàng này được xem xét giảm thuế trong năm 2020 và có lộ trình giảm về 0% ở những năm tiếp theo. Như vậy, người Việt sẽ được tiêu dùng nông sản Mỹ với mức giá rẻ hơn nhiều so với hiện tại.

Thậm chí, nhiều người đã mơ tới viễn cảnh một người Việt giữa Thủ đô Hà Nội, sáng ăn phở bò Mỹ, trưa ăn thịt lợn xứ cờ hoa, tráng miệng qua loa với táo, nho, hạnh nhân, óc chó… nhập khẩu từ Bắc Mỹ. Được thế, sẽ chẳng khác nào một công dân New York chính hiệu. Tuyệt đỉnh văn minh là đấy chứ là đâu.

Nong san Viet dung canh hang My va ban khoan sinh ngoai
Thịt bò Mỹ đã xuất hiện tại Việt Nam với mức giá rẻ hơn thịt bò nội địa

Người Mỹ cũng có lý do của họ. Thương chiến Mỹ - Trung vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt khiến nông dân ở nhiều bang tại Mỹ lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Tìm một thị trường có sức tiêu thụ lớn như Trung Quốc là điều khó khả thi, tuy nhiên năng nhặt thì chặt bị, nhiều thị trường nhỏ góp lại sẽ thành một thị trường to. Với gần 100 triệu dân và sự hào hứng với các sản phẩm ngoại nhập, đặc biệt từ nền kinh tế phát triển như Mỹ, Việt Nam là một điểm đến thực tế.

Ngoài ra, với sự rút lui khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và sự vắng mặt trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), hàng hóa Mỹ đi vào 11 nước thành viên CPTPP sẽ không được hưởng ưu đãi thuế suất. Những cuộc đàm phán FTA song phương giữa Mỹ và các đối tác đã diễn ra và rõ ràng Mỹ đã đạt được những kết quả vừa ý.

Mở rộng con đường để nông sản Mỹ vào Việt Nam tại thời điểm này thậm chí phải được coi là ‘thiên thời địa lợi nhân hòa’. Dịch tả lợn châu Phi khiến nguồn cung mặt hàng này trên thị trường Việt Nam giảm, đẩy giá tăng phi mã đang là vấn đề đau đầu của các nhà quản lý. Cân nhắc nhập thịt lợn ngoại đã được đưa ra và xem ra đó là lựa chọn không thể khác. Người Mỹ biết cách nắm bắt cơ hội này.

Về phía Việt Nam, Bộ Tài chính vừa có công văn xin ý kiến các bộ, ngành lần thứ 4 về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung Nghị định số 125/2017/NĐ-CP của Chính phủ liên quan đến biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi, liên quan tới đề nghị nêu trên.

Trong đó, một giải pháp dung hòa đã được Bộ Tài chính đưa ra. Phía Việt Nam sẽ đồng ý giảm thuế suất những mặt hàng nông sản từ Mỹ, tuy nhiên mức giảm hơi khác với đề nghị của Mỹ một tí. Cụ thể, mức giảm thuế thịt gà và chế phẩm dự kiến xuống 18%, cao hơn mức gợi ý 14,5% của Mỹ, tương ứng với mức cắt giảm năm thứ nhất trong Hiệp định CPTPP. Thuế với táo, nho tươi từ Mỹ dự kiến giảm về 8%; thuế nhập khẩu lúa mỳ giảm về 3%; khoai tây 12%; thịt lợn giảm về 22%, mức thuế tiệm cận theo cam kết trong CPTPP...

Phải thừa nhận, đây là một lựa chọn khó có thể tốt hơn. Từ năm 1997, kim ngạch thương mại Việt – Mỹ luôn ghi nhận mức thâm hụt thương mại của phía Mỹ theo chiều hướng tăng dần. Năm 2018, Việt Nam đạt thặng dư thương mại lên tới 35 tỷ USD với thị trường Mỹ. Việt Nam đã từng hơn một lần bày tỏ quan điểm tăng cường nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ từ Mỹ trên cơ sở hiệu quả kinh tế để giúp cân bằng hơn cán cân xuất nhập khẩu giữa hai nước. Và khi đã nói, chúng ta sẽ phải làm.

Vả lại, thị trường Việt Nam đang ngày càng… toàn cầu hóa. Được đánh giá là một trong những quốc gia hào hứng nhất với các hiệp định thương mại tự do FTA, việc giảm thuế cho hàng hóa vào Việt Nam chỉ là chuyện trước hay sau. Mặt khác, hành động thiện chí từ phía Việt Nam có thể làm giảm đi áp lực về việc áp thuế cao với hàng hóa xuất xứ dải đất hình chữ S. Cánh cửa cho các sản phẩm, dịch vụ mới từ Việt Nam vào Mỹ cũng sẽ dễ mở hơn. Như người xưa vẫn nói, có đi thì mới có lại.

Đương nhiên, sẽ có những hệ lụy. Hẳn không cần bàn cãi nhiều về việc mở cửa cho hàng ngoại đồng nghĩa tạo áp lực cho nền sản xuất trong nước. Đối với Việt Nam, khó khăn sẽ nhân lên gấp bội mà câu chuyện thất thu một khoản ngân sách chỉ là rất nhỏ.

Thứ nhất, nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nhìn chung vẫn mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Nếu so sánh với quy mô sản xuất như tại Mỹ, Trung Quốc, sẽ là một chàng David phải đấu tay đôi với gã khổng lồ Goliath. Lợi thế không nằm ở sự độc đáo, riêng biệt khi cách làm của chúng ta hiện nay vẫn đang chạy theo số lượng, cạnh tranh bằng giá thành. Đi theo cách này, khả năng thắng là rất thấp bởi chúng ta không thể đọ được với một nền sản xuất quy mô lớn hơn về giá.

Thứ hai, nguy cơ thua thiệt trên sân nhà phải được lường trước. Khi tâm lý sính ngoại và sự kém tin tưởng vào chất lượng hàng hóa trong nước vẫn đang rất phổ biến, những sản phẩm nước ngoài du nhập vào thị trường Việt Nam có thể sẽ lấn át cả hàng nội. Nông nghiệp đang tạo ra thu nhập cho 60% dân số Việt Nam và mọi biến động ở khu vực sản xuất kinh tế này đều phải tính tới sinh kế của nhiều chục triệu con người này.

Đó là chưa kể, nếu nuôi dưỡng nhiều thế hệ bằng thịt ngoại, trái cây ngoại, những thế hệ KFC kiểu mới sẽ thành hình với thói quen tiêu dùng đồ nhập từ nước ngoài. Đối với nông sản Việt, đây không chỉ là những trắc trở trước mắt, mà là gian khó trong dài hạn khi cánh cửa xuất khẩu ra nước ngoài vẫn chỉ mở rất hờ.

Tréo ngoe ở chỗ một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam phải hào hứng hơn với nông sản Mỹ là vì thặng dư thương mại của chúng ta ở thị trường này rất cao. Tuy nhiên, trên thực tế, thành tích xuất siêu của Việt Nam nhiều năm nay đến từ khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI. Việc Việt Nam trở thành một cứ điểm xuất khẩu hộ doanh nghiệp FDI đang tạo ra thách thức cho việc tiêu thụ sản phẩm trong nước, trong khi phần chúng ta nhận được từ lâu vẫn bị đánh giá là chưa tương xứng. Thậm chí khối FDI còn đang là khu vực được ưu đãi về nguồn lực, thuế, khiến không gian ưu đãi cho doanh nghiệp trong nước bị thu hẹp lại. Bài toán này rất cần lời giải sớm.

Tất nhiên, không phải ngẫu nhiên mà kinh tế thế kỷ này là nền kinh tế với các thỏa thuận FTA. Đa phần đó là những bài toán trao đổi kiểu “ông mất chân giò, bà thò chai rượu’, nghĩa là hai bên mở cửa cho hàng hóa của nhau với kim ngạch tương đương. Sự cởi mở của Việt Nam, không chỉ với hàng hóa Mỹ, trong khi nền sản xuất trong nước còn yếu kém sẽ đặt chúng ta trước một thách thức lớn, tồn tại trên sân nhà. Chắc chắn sẽ cần rất nhiều nỗ lực và người Việt lại phải tiếp tục hi vọng.

Khánh Nguyên