Tranh luận nóng

50 quả tên lửa đủ để chiến thắng nước Nga

Chủ Nhật, 10/06/2018 07:27

(Bình luận quân sự) - Xin giới thiệu bài viết gây rất nhiều ý kiến tranh luận mới trên tờ báo Nga “Bình luận quân sự” ngày 7/6/2018 của chuyên gia quân sự Nga Dmitri Verkhoturov.

Tiêu đề bài viết trên và các ảnh là của tác giả.

Cần bao nhiêu tên lửa để chiến thắng nước Nga? Câu trả lời có thể làm nhiều bạn đọc bị chấn động mạnh và sốc. Chúng tôi nghĩ rằng, khoảng gần 50 quả.

Thêm nữa, không cần phải là các tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân, mà là các tên lửa có cánh thông thường, RGM/UGM-109D Block III và RGM/UGM-109E Block IV, tức là các biến thể mới nhất của tên lửa hành trình “Tomahawk” Mỹ.

 Số lượng đạn (tên lửa) của một tàu khu trục kiểu Arleigh Burke (các tàu này có thể mang tới 50 tên lửa “Tomahawk” mỗi tàu) là thừa đủ để trong những tình huống thuận lợi có thể giành chiến thắng trước Nga. Tại sao lại như vậy?

50 qua ten lua du de chien thang nuoc Nga
Đây là chiếc tàu có thể đánh bại nước Nga. Trên ảnh là USS Farragut (DDG-99),tàu khu trục lớp Arleigh Burke có 96 ổ phóng quy chuẩn: theo một số nguồn tin, USS Farragut (DDG-99) mang tới 50 qủa tên lửa có cánh “Tomahawk”.

Về nguyên lý, thì kể cả khi làm công tác phân tích quân sự- kinh tế và nói chung là kể cả khi chuẩn bị cho chiến tranh, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng được đặt ra là phải lường trước được những hành động của đối phương tiềm năng, phải xác định được là đối phương tiềm năng sẽ bằng cách nào, sử dụng phương thức nào có hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu của mình trong cuộc chiến tranh có thể xảy ra.

Như đã biết, đối thủ tiềm tàng hơn cả của chúng ta (Nga), Mỹ và NATO, đặt ưu tiên vào việc sử dụng vũ khí chính xác cao, mà chủ yếu là các tên lửa có cánh.

Trong tất cả các cuộc chiến tranh mà Mỹ đã tiến hành, bắt đầu từ “ Bão táp sa mạc” (Chiến tranh chống Iraq năm 1991), tên lửa có cánh luôn giữ vai trò trọng yếu trong số các phương tiện tiêu diệt đối phương, đặc biêt là trong giai đoạn tác chiến đầu tiên.

Nói chỉ tiết hơn, tên lửa “Tomahawk Block III” (một trong những biến thể mới nhất) là sản phẩm của quá trình hiện đại hóa những tên lửa đã sử dụng trong cuộc chiến tranh Iraq này.

 Trong những chiến dịch mà Mỹ đã từng tiến hành, nước này đã sử dụng hàng trăm quả tên lửa: Chiến dịch “Con cáo sa mạc” (tiến công Iraq trong các ngày 17-19/12/1998) – 415 tên lửa, Nam Tư – gần 700 quả tên lửa (trong số đó có gần 30% số tên lửa tấn công các mục tiêu hành chính và công nghiệp), chiến dịch tại Afganistan trong năm 2001- gần 600 quả tên lửa, Chiến tranh tại Iraq 2003- gần 700 quả tên lửa, Chiến dịch tại Lybia năm 2012- 112 tên lửa.

Có nghĩa là dự báo cho một cuộc chiến tranh tiềm năng sẽ là: (đối phương) sẽ sử dụng ồ ạt tên lửa, chủ yếu là phóng từ biển.

Từ những phân tích kinh nghiệm sử dụng (tên lửa), có thể rút ra kết luận là để tiêu diệt một mục tiêu công nghiệp lớn cần phải (sử dụng) tương đối nhiều tên lửa (nếu bắn trúng mục tiêu), từ 6 đến 10 quả hoặc hơn.

Vì đã có kết luận như vậy nên (tại Nga) cũng đã có những luận điểm mang tính trấn an như sau: nếu như để phá hỏng cơ sở hạ tầng của một quốc gia thậm chí là kém phát triển kiểu như Iraq hoặc Afganistan cũng cần phải có hàng trăm tên lửa có cánh, thì đối với Nga, cần phải có hàng nghìn (tên lửa) và con số đó rõ ràng là vượt quá khả năng thậm chí của cả một ngân sách quân sự khổng lồ như Mỹ.

Quả đúng là chỉ riêng con số các nhà máy điện lớn của Nga có công suất từ 5 MW trở lên- cũng đã hơn 600, còn chiều dài đường dây tải điện lên tới 450.000 km.

Tuy nhiên, hệ thống công nghiệp mà đặc biệt là hệ thống năng lượng của những nước mà Mỹ đã tấn công trong vòng hơn 25 năm nay khác hẳn các hệ thống tương tự của Nga. Hệ thống (của các nước đó) không tập trung hóa ở mức độ quá cao như tại Liên Xô (và quốc gia thừa kế Liên Xô là Nga).

Lấy ví dụ, hệ thống năng lượng điện của Nam Tư vào thời điểm bị không kích được bố trí phân tán (tổ hợp năng lượng lớn nhất của nước này “Nhikolai Tesla” nằm tại Obrenobats, cách Belgrad 40 km), còn các nhà máy thủy điện (trong đó có nhà máy thủy điện lớn nhất “ Zeleznyi Vorota-1 ” nằm trên sông Danube.

Tại Nam Tư, mỗi một thành phố lớn đều có nhà máy điện riêng được xây dựng gần đó và sử dụng vào nguồn nhiên liệu sẵn có tại địa phương, chính vì thế mà hệ thống các đường dây truyền tải điện tương đối kém phát triển. Vì vậy mà người Mỹ buộc phải tấn công vào từng nhà máy điện để làm tê liệt hệ thống năng lượng của nước này.

Còn tại Nga thì không chỉ tồn tại một hệ thống năng lượng thống nhất kết nối tất cả các nhà máy điện lớn vào một mạng lưới diện duy nhất, mà tuyệt đại đa số các nhà máy điện đều sử dụng một nguồn nhiên liệu còn có mức độ tập trung hóa cao hơn- đó là khí tự nhiên.

Năm 2016, nước Nga đã sử dụng 457 tỷ m3 khí đốt, trong số đó có 156 tỷ m3 dùng để phát điện, 130 tỷ m3 dùng cho công nghiệp và 87 tỷ m3 sử dụng để đun nước nóng sưởi ấm và dùng cho sinh hoạt.

Khí tự nhiên được sử dụng không chỉ để làm nhiên liệu, mà còn dùng để làm nguyên liệu, ví dụ như dùng để sản xuất các loại vật liệu quân sự rất quan trọng như axit nitric.

Trong ngành năng lượng điện, tỷ lệ sử dụng khí đốt (dùng cho các nhà máy điện) trong năm 2016 là 72,6 % trong toàn nước Nga, và tỷ lệ này đang có xu hướng tăng lên. Chỉ riêng tại Sibiri, nơi có rất nhiều than, là có tỷ lệ ngược lại: than chiếm 85,6% nguồn nhiên liệu dùng để sản xuất điện.