Tranh luận nóng

Luật Biển phải được thực thi trên Biển Đông

Chủ Nhật, 26/01/2020 14:20

(Quan hệ quốc tế) - Công ước LHQ về Luật Biển đã và đang được thực thi trên khắp các vùng biển, không có lý do gì để không được tuân thủ ở Biển Đông.

Trung Quốc không ‘giấu mình chờ thời’ nữa

Trong giai đoạn từ giữa thập kỷ 1990 đến đầu những năm 2000, quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN tuy cũng có trục trặc nhưng không đến mức căng thẳng. Nhiều người cho rằng, lúc đó Trung Quốc muốn đối thoại hòa bình với các nước trong khu vực để tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề Biển Đông.

Cũng có người nhận định rằng Bắc Kinh đang muốn sử dụng “quyền lực mềm” qua chính sách ngoại giao mềm mỏng để thuyết phục các nước ASEAN đang có tranh chấp về lãnh thổ đi theo định hướng của mình. Tuy nhiên những quan điểm này đã chứng tỏ là không chính xác hoặc chưa đầy đủ.

Luat Bien phai duoc thuc thi tren Bien Dong
Tàu Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough

Thực ra Bắc Kinh chưa bao giờ từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông. Trong giai đoạn đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, hải quân Trung Quốc chưa có khả năng hoạt động xa bờ;

lực lượng chấp pháp biển của họ mới chỉ có các tàu nhỏ, lượng giãn nước thấp; không quân cũng hầu hết là các loại máy bay cũ không vươn được tới phía nam Biển Đông. Trung Quốc nhận thấy chưa đủ lực để thôn tính Biển Đông nên vẫn phải “giấu mình chờ thời”.

Chính vì vậy, Bắc Kinh mới thực hiện chính sách tỏ ra “hòa hoãn” với các nước ASEAN, tạo dựng hình ảnh một Trung Hoa yêu hòa bình, để vừa xây dựng quan hệ hợp tác với các quốc gia không có biển, vừa chi phối kinh tế các nước Đông Nam Á hòng tìm kiếm một công cụ chiến lược để gây áp lực trong tương lai.

Cùng lúc đó Trung Quốc tăng cường mua sắm vũ khí, tự chế tạo máy bay chiến đấu, đóng mới các tàu sân bay, tàu hộ vệ, tàu khu trục, để nhanh chóng nâng cao sức mạnh không quân và hải quân.

Đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, sức mạnh quân đội Trung Quốc cơ bản đã được nâng lên một tầm mức mới, trở thành cường quốc quân sự tầm cỡ thế giới.

Trung Quốc cũng thống nhất 5 lực lượng chấp pháp biển gồm: Hải quan, Hải tuần, Hải cảnh, Hải giám và Ngư chính, quy về dưới sự quản lý của lực lượng cảnh sát biển (Hải cảnh).

Lực lượng tàu chấp pháp biển của Trung Quốc qua con đường hoán cải tàu chiến thành tàu chấp pháp và tự đóng mới đã trở nên rất mạnh với trên dưới 100 tàu Hải cảnh cỡ lớn, trong đó có hàng loạt tàu 5.000-6.000 tấn, thậm chí có 4 tàu có lượng giãn nước lên tới 12.000 tấn, gấp 4 lần những chiến hạm hạng nặng của các nước trong khu vực.

Đến lúc này, Bắc Kinh tự cho rằng họ đã “đủ lông, đủ cánh”, bắt đầu “trỗi dậy không hòa bình” và chấm dứt giai đoạn “giấu mình chờ thời”.

Âm mưu của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc nhìn chuyên gia

Để thực hiện “giấc mộng Trung Hoa vĩ đại”, Bắc Kinh bắt đầu bành trướng theo hướng biển. Để rảnh tay đối phó với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc đã sử dụng chiến lược “đối đầu cầm chừng” với Nhật Bản trên biển Hoa Đông và tạm thời gác lại vấn đề Đài Loan.

Giáo sư Kerry Brown của Viện Nghiên cứu quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) đã từng nhận định trên Express.co.uk rằng, ASEAN có 11 quốc gia, nhưng chỉ có 5 nước có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo, đá trên Biển Đông là Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia và Brunei.

Tuy nhiên tiềm lực của các quốc gia này lại chưa mạnh. Mục tiêu trọng điểm của Trung Quốc là Việt Nam và Philippines, vì trong số các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, chỉ có Hà Nội và Manila là có những hành động kiên quyết để bảo vệ chủ quyền.

Bắc Kinh đã sử dụng nhiều chiêu bài để chia rẽ các nước Đông Nam Á và họ đã đạt được thành công nhất định khi lôi kéo được một số nước ASEAN, đẩy tổ chức này tới chỗ vài lần không ra được tuyên bố chung về Biển Đông, trong khi tiến trình đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) không mấy tiến triển.

Chuyên gia về các vấn đề Biển Đông và Thái Bình Dương Bill Hayton thuộc Chatham House nói rằng, bằng các biện pháp quân sự và ngoại giao, Trung Quốc đã kiểm soát thực tế sườn phía đông "đường lưỡi bò", chạy dọc từ bãi cạn Scarborough đến khu vực bãi Cỏ Mây, bãi Cỏ Rong ở Trường Sa, chặn con đường hướng ra biển của Philippines.

Sau khi tạm thời giải quyết được sườn phía đông, Bắc Kinh liền tập trung đối phó với Việt Nam. Trung Quốc chủ trương “gặm nhấm biển Đông”, thôn tính sườn phía tây của “đường lưỡi bò”, kéo dài từ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, dọc theo 9 lô dầu khí mà năm 2012 Trung Quốc mời thầu phi pháp trên vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, kéo dài đến hết Trường Sa.

Trung Quốc đã ngang ngược kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014; ra sức bồi đắp các đảo đá nhân tạo trên Biển Đông và triển khai các loại vũ khí trang bị quân sự ra đó, đưa tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 xuống khảo sát trái phép ở vùng biển Trường Sa của Việt Nam từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 10 năm 2019.

Trung Quốc cho rằng họ có tiềm lực hải quân và lực lượng chấp pháp biển vượt trội, có thể lấn lướt Việt Nam. Hành vi của Trung Quốc còn nhằm mục tiêu hăm dọa các nước khác, bởi nếu lấn lướt được Việt Nam thì Trung Quốc có thể dễ dàng bỏ qua các nước khác để thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông.

Tuy nhiên, các nước trong khu vực và dư luận quốc tế đã lên tiếng phản đối những hành vi gây hấn, vi phạm luật quốc tế của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền của các nước ở Biển Đông.

Dư luận quốc tế đòi hỏi Trung Quốc phải tuân thủ luật quốc tế và tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Công ước LHQ về Luật Biển đã và đang được thực thi trên khắp các vùng biển của thế giới, không có lý do gì để không được tuân thủ ở Biển Đông.

Nguyễn Ngọc