Tranh luận nóng

Đề xuất tăng tuổi hưu vì sao chưa đồng thuận?

Thứ Tư, 22/05/2019 07:03

(Tin tức thời sự) - Cần tính toán tăng tuổi hưu nhưng phải có phương án phù hợp, không nên áp đặt một độ tuổi “cứng”, đưa ra quy định áp dụng chung cho tất cả.

Tăng tuổi hưu vì lo vỡ quỹ là không thuyết phục

PV:- Những quan điểm nói trên dường như không đúng với thuyết trình của Bộ LĐ-TB-XH. Cơ quan này giải thích, đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu được xây dựng trên nhiều căn cứ như: năng suất lao động, tỷ lệ thất nghiệp, tình hình kinh tế... chứ không phải chỉ vì lo vỡ quỹ.  Theo ông, Bộ LĐ-TB-XH có nên lắng nghe những phản biện từ những người trong cuộc hay không? Đứng từ góc độ khách quan hơn, nếu nhìn vào những căn cứ trên thì đề xuất tăng tuổi hưu như Dự thảo đã hợp lý chưa? Xin ông phân tích cụ thể.

ĐBQH Hoàng Văn Cường: - Việc Bộ LĐ-TB-XH xác định tuổi nghỉ hưu dựa trên các căn cứ như năng suất lao động thấp, tỷ lệ thất nghiệp, tình hình kinh tế... là đúng nhưng chưa đủ.

Ông Hoàng Văn Cường - ĐBQH đoàn Hà Nội

Thứ nhất, về năng suất lao động, rõ ràng, nhóm đối tượng nào đang ở độ tuổi lao động tốt, hiệu quả, năng suất cao thì phải tận dụng, kéo dài thời gian lao động. Giả định năng suất lao động của mỗi lao động tăng lên, các yếu tố khác liên quan đến tăng trưởng kinh tế là không đổi, thì tăng tuổi nghỉ hưu sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế nhờ tăng tổng số người tham gia lao động hay tăng tổng thời gian lao động xã hội. 

Tuy nhiên, cũng không vì năng suất lao động thấp, bắt người lao động phải làm việc nhiều hơn để năng suất lao động xã hội sẽ tăng lên. Nếu bắt người lao động làm việc nhiều hơn tại thời điểm ở độ tuổi không phù hợp, sức khỏe đã giảm sút, hiệu quả thấp trong khi các khoản chi phí xã hội, chi phí thời gian, chi phí cơ hội cho người lao động lại tăng sẽ càng làm cho năng suất lao động xã hội đi xuống. Quỹ bảo hiểm xã hội nặng gánh hơn, áp lực hơn, nguy cơ vỡ quỹ càng xảy ra nhanh hơn. Như vậy, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu căn cứ dựa trên năng suất lao động là đúng nhưng phải tương ứng với độ tuổi và hiệu quả của người lao động tại thời điểm người lao động đang làm việc.
 
Thứ hai, về lo ngại tình trạng thất nghiệp đang cao, tăng tuổi nghỉ hưu sẽ dẫn đến tình trạng một bộ phận lao động sẽ mất cơ hội việc làm hoặc rơi vào tình trạng thất nghiệp. Đây cũng là một lý do phải quan tâm nhưng cần phải nhìn theo hướng đa chiều.

Việc sử dụng lao động phải căn cứ vào tính hiệu quả, năng suất lao động của người lao động tạo ra. Nếu người lao động vẫn làm việc tốt, năng suất cao thì không có lý do gì lại bắt người sử dụng lao động phải buộc lao động có trình độ thành thạo, có hiệu suất lao động tốt nghỉ việc để tuyển lao động mới vào làm việc.

Tuy nhiên, trong trường hợp nhóm lao động trẻ lại có kỹ năng, có trình độ, có khả năng tiếp thu công nghệ tốt nhưng bị dư thừa, không được sử dụng, thay vào đó, doanh nghiệp vẫn tận dụng lao động cũ, hiệu suất làm việc thấp, năng suất không cao thì lại là phi kinh tế, không hợp lý cả về hiệu quả xã hội. 

Do đó, tình trạng dư thừa lao động là vấn đề cần được xem xét ở góc độ vĩ mô, không vì tỉ lệ thất nghiệp đang cao mà bắt người lao động phải nghỉ hưu sớm để giải quyết việc làm cho lao động trẻ. Cần xem tình trạng thất nghiệp như một sức ép, buộc các cơ quan quản lý nhà nước cũng như mỗi người lao động phải tự thay đổi, phải sáng tạo, nghĩ ra nhiều ý tưởng, tạo ra nhiều việc làm mới. Ở các nước phát triển, để không phải đối diện với tình trạng thất nghiệp tăng cao thì bản thân người lao động và xã hội phải giải quyết tốt vấn đề sáng tạo và lựa chọn việc làm, cùng tạo ra được rất nhiều việc làm mới cho người lao động.

Thứ ba, về yếu tố cân bằng quỹ Bảo hiểm xã hội. Nếu đặt vấn đề do lo ngại mất cân bằng quỹ, quỹ bảo hiểm có thể bị vỡ, phải tăng tuổi hưu là hoàn toàn không có cơ sở. Mối quan hệ giữa quỹ bảo hiểm với thời gian lao động và tuổi nghỉ hưu là mối quan hệ hai chiều.

Tăng tuổi nghỉ hưu, kéo dài thời gian đóng góp bảo hiểm của người lao động cũng có thể góp phần tăng nguồn thu cho quỹ, giảm áp lực chi trả cho quỹ hưu trí tại từng thời điểm chi trả nhất định nhưng cũng có thể làm suy giảm nguồn quỹ nhanh hơn do phải tiêu tốn nhiều hơn cho các chính sách xã hội như giải quyết ốm đau, tai nạn… cho người lao động.

Nếu nhìn một cách toàn diện sẽ thấy, yếu tố cân đối quỹ BHXH trong dài hạn phụ thuộc nhiều hơn vào mô hình quản lý, vận hành BHXH chứ không phỉ chỉ phụ thuộc nhiều vào việc điều chỉnh tăng hay giảm tuổi nghỉ hưu. Với mô hình BHXH tọa thu - tọa chi, tức là thu BHXH của người đang đi làm để chi cho người đã nghỉ hưu thì vấn đề cân đối quỹ BHXH trong dài hạn, nhất là bảo hiểm hưu trí, phụ thuộc vào việc đóng quỹ của người lao động trong thời gian lao động và mức hưởng của người lao động sau khi nghỉ hưu thông qua công thức tính lương hưu.

Cho tới thời điểm này, việc đầu tiên tôi cho rằng cần phải có nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ giữa thời gian lao động - tỉ lệ đóng góp của người lao động với thời gian hưởng thụ của người lao động khi về hưu (hay còn gọi là tuổi sống kỳ vọng sau khi nghỉ hưu), trên cơ sở đó mới xây dựng được chính sách hưu, bao gồm việc: xác định tuổi hưu, mức chi trả lương hưu cũng như tỉ lệ đóng góp và tỉ lệ hưởng thụ của người đóng bảo hiểm xã hội khi về hưu cho phù hợp.