Tranh luận nóng

Thêm ngày nghỉ, tăng tuổi hưu: Vì sao so với các nước?

Thứ Hai, 23/09/2019 13:32

(Tin tức thời sự) - TS Bùi Trinh cho rằng, nếu so sánh với các nước thì phải so sánh một cách toàn diện; đồng thời cần làm cuộc điều tra trước khi đưa ra kiến nghị.

Góp ý dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam kiến nghị tăng thêm 3 ngày nghỉ trong năm vào dịp khai giảng và Quốc khánh. Lãnh đạo Tổng Liên đoàn lao động cho rằng, ngày nghỉ của Việt nam đang thấp so với các nước trong khu vực. Nếu như Trung Quốc và Myanmar thực hiện chế độ 21 ngày nghỉ trong năm thì Việt Nam chỉ có 10 ngày.

Nhiều nước cũng được Bộ LĐ-TB-XH viện dẫn so sánh khi đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62, nữ lên 60. Theo cơ quan soạn thảo, so sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam đang có tuổi nghỉ hưu tương đối thấp trong khi lại có mức tuổi thọ ở tuổi 60 khá cao.

Cụ thể, Việt Nam có tuổi thọ ở tuổi 60 là 22,5 năm, trong khi tuổi nghỉ hưu bình quân theo quy định chỉ là 57, tuổi nghỉ hưu bình quân trên thực tế chỉ khoảng 53,5, trong khi Malaysia có tuổi thọ ở tuổi 60 là 19,5 năm, tuổi nghỉ hưu bình quân là 60; Thái Lan có tuổi thọ ở tuổi 60 là 21 năm, tuổi nghỉ hưu bình quân là 60.

Tuổi nghỉ hưu của các nước trên thế giới phổ biến là trên 60 đối với nữ, trên 62 đối với nam. Số liệu thống kê của Tổ chức ILO về quy định tuổi nghỉ hưu của 176 quốc gia  cho thấy: Tuổi nghỉ hưu của nữ phổ biến từ 60-62 chiếm 37,5% ; Tuổi nghỉ hưu của nam phổ biến từ 60-62 chiếm 47,2%.

Trên đây là một vài ví dụ cho thấy yếu tố không thể thiếu khi xây dựng chính sách ở Việt Nam là so sánh với nước khác.

Ở góc độ chuyên gia, TS Bùi Trinh cho rằng, về nguyên tắc, đã so sánh với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới thì phải so sánh một cách toàn diện, đừng chỉ thấy cái gì có lợi cho mình mới so sánh.

Them ngay nghi, tang tuoi huu: Vi sao so voi cac nuoc?
Phải lấy ý kiến người lao động, người sử dụng lao động và người dân trước khi đưa ra kiến nghị. Ảnh: Lao động

Dẫn đề xuất tăng thêm số ngày nghỉ trong năm hay tăng lương làm ví dụ, chuyên gia Bùi Trinh cho biết, không thể tăng mà không gắn liền với năng suất lao động.

"Về mặt khoa học, tăng lương thì phải kèm với tăng năng suất lao động, năng suất lao động có tăng thì lương mới tăng, không thể tăng một cách tùy tiện được.

Đề xuất thêm ngày nghỉ cũng giống như tăng lương, doanh nghiệp phải bỏ tiền ra để trả cho người lao động, nhưng việc tăng ấy lại không gắn với tăng năng suất lao động. Việt Nam lấy giá trị gia tăng chia cho số lao động, năng suất lao động thấp hơn rất nhiều vì cứ tăng lương mà không tính tới năng suất lao động.

Cho nên, ngày nghỉ lễ, tết trong năm và việc tăng lương cho người lao động phải phụ thuộc vào người sử dụng lao động, phải xem năng suất lao động có tăng không, công việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ra sao... chứ không phải dùng mệnh lệnh hành chính.

Đối với việc tăng lương, thêm ngày nghỉ... cần phải có cuộc điều tra, khảo sát đối với người lao động, người sử dụng lao động và người dân trước khi đưa ra kiến nghị, bao nhiêu phần trăm muốn, bao nhiêu phần trăm không muốn.

Thử tưởng tượng, cứ vào dịp gần cuối năm lại có một đề xuất tăng lương nhưng thử hỏi người lao động có muốn không khi vào cuối năm tất cả mọi giao dịch đều bị đình trệ, tiền không rút được, không làm được gì. Hay nghỉ thêm mấy ngày thì người dân biết làm gì? Doanh nghiệp thiệt hại ra sao?...", chuyên gia kinh tế Bùi Trinh phân tích.

Ông dẫn thêm ví dụ khác, việc tính lại GDP cũng được Tổng cục Thống kê viện dẫn rằng nhiều nước thực hiện việc tính lại này như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Zambia...

Tuy nhiên, TS Bùi Trinh lưu ý: "Các nước như Mỹ, Canada... tính lại GDP và quy mô GDP tăng lên nhưng việc chi ngân sách, vay nợ của các nước đó không hoàn toàn dựa vào GDP, trong khi GDP của Việt Nam tăng lên lại liên quan đến nợ, bội chi và các chỉ tiêu tài chính quốc gia khác.

Nợ công/GDP, nợ nước ngoài/GDP, hay thâm hụt ngân sách/GDP là những chỉ tiêu quan trọng phải tuân thủ hạn mức trần và chịu sự giám sát bởi Quốc hội. Khi mẫu số tăng lên, các chỉ tiêu trên sẽ giảm xuống tương ứng.

Hiện nay tiêu dùng cuối cùng/GDP của người dân Việt Nam và Mỹ ngang nhau (khoảng 80%) nhưng nếu GDP sau khi tính lại tăng lên 25,4% thì tiêu dùng còn bao nhiêu? Nếu vẫn là 80% thì đó là con số khổng lồ.

Những điều đó cho thấy có rất nhiều vấn đề xảy ra khi GDP tăng lên", TS Bùi Trinh cho biết.

Bởi vậy, một lần nữa, ông nhấn mạnh, trong xây dựng chính sách, viện dẫn, so sánh với các nước khác là cần thiết nhưng phải so sánh một cách toàn diện. Đặc biệt, để làm một cách tử tế thì phải có cuộc điều tra tiền khả thi đối với người lao động, người sử dụng lao động và người dân trước khi đưa ra kiến nghị.

Thành Luân