Tranh luận nóng

Đội ngũ trí thức là những ai?

Thứ Ba, 27/10/2020 15:40

(Diễn đàn trí thức) - Lực lượng trí thức là “trình độ học vấn cao” nhưng “cao” như thế nào thì chưa có chỉ tiêu đo lường.

Trong tham luận tại Diễn đàn khoa học "Đánh giá, đề xuất cơ chế, chính sách đột phá để phát huy vai trò của trí thức Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn 2021-2030", Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật tỉnh Lào Cai đã nêu hàng loạt vấn đề bất cập trong công tác phát triển lực lượng trí thức.

Doi ngu tri thuc la nhung ai?
Một hội thảo về phổ biến kiến thức tại Liên Hiệp Hội tỉnh Lào Cai.

Théo đó,  nội hàm về khái niệm “Trí thức” chưa được làm rõ và thống nhất. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về khái niệm “Trí thức”, tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi nhấn mạnh cách hiểu về khái niệm “Trí thức” theo quan điểm của Đảng đã được khẳng định tại Nghị quyết 27-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa X.

Theo Nghị quyết 27, “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.”

Như vậy, có thể thấy đặc điểm đầu tiên của “Trí thức” đó là người có “trình độ học vấn cao”. Nhưng “cao” như thế nào thì cho đến nay, chưa có bộ, ngành hay bất cứ một nghiên cứu nào đưa ra được các chỉ số để đo lường “Trình độ của người Trí thức”; “Trí thức phải là người có trình độ Đại học trở lên hay Thạc sĩ, Tiến sĩ hoặc tương đương?. Để từ đó có sự lượng hóa cụ thể trong việc xác định “Ai là Trí thức”?

Ngoài "có trình độ cao", trí thức cũng là người “có năng lực tư duy độc lập”. Vậy, thước đo nào để đánh giá năng lực tư duy độc lập của con người nói chung và của “Trí thức” nói riêng?

Với các đặc điểm còn lại như: “sáng tạo”, “truyền bá và làm giàu tri thức”, “tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất” thì với những người không có trình độ học vấn cao như các nghệ nhân; thậm chí cả những anh, những bác nông dân với đam mê sáng tạo họ hoàn toàn có thể tự nghiên cứu, tự trau dồi tri thức của mình và sáng tạo ra được những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị cho xã hội.

Vì vậy, theo chúng tôi, khái niệm “Trí thức” phải được xây dựng một cách cụ thể, bám sát quan điểm của Đảng; gắn chặt các đặc điểm của người “Trí thức” đã được xác định trong Nghị quyết 27.

Đưa ra được định nghĩa về người trí thức là một việc khó khăn, nhưng cần thiết, vì nó liên quan đến các hoạt động của con người và xã hội. Khi xác định được nội hàm của khái niệm “Đội ngũ trí thức” mới xác định được đội ngũ trí thức là ai, gồm bao nhiêu người, chất lượng trình độ ra sao? Xác định đúng nội dung cơ bản của khái niệm trí thức sẽ là cơ sở để khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, phát hiện, sử dụng đội ngũ này cho đúng, cho tốt.

Khi có những thống kê về số lượng mới đưa ra được giải pháp đúng, trúng và khả thi để thực hiện trong chiến lược phát triển. Nó còn liên quan đến công tác tổ chức, việc hoạch định các chính sách, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hoạt động tư vấn phản biện (TVPB) và giám định xã hội  (GĐXH) tại địa phương hiện vẫn gặp khó khăn do các bất cập

Thông tư 11/2015/TT-BTC, ngày 29/01/2015 của Bộ Tài chính “hướng dẫn có chế tài chính cho hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam” quy định nguồn ngân sách và một số nội dung, mức chi được phép. Tuy nhiên, Thông tư lại thiếu một số hướng dẫn về: Việc lập hội đồng tư vấn, phản biện và giám định xã hội ở địa phương; Thẩm quyền phê duyệt danh mục nhiệm vụ TVPB&GĐXH, phê duyệt nhiệm vụ TVPB&GĐXH (như đối với nhiệm vụ KHCN hằng năm) đối với các nhiệm vụ TVPB&GĐXH có sử dụng ngân sách Nhà nước.

Hiện nay, cơ chế, chính sách tài chính hỗ trợ cho hoạt động của Liên hiệp Hội và các Hội của đội ngũ trí thức chưa rõ ràng. Theo quy định của Luật Ngân sách, Ngân sách Nhà nước chỉ cấp cho các Hội theo phương thức hỗ trợ đối với các hoạt động có gắn với nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước giao. Tuy nhiên, trên thực tế việc này còn gặp nhiều bất cập:

Một là, Chính phủ, các bộ, ngành chưa xác định cụ thể được đâu là nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao hoặc đâu là dịch vụ công có thể giao cho Liên hiệp Hội và các Hội của đội ngũ trí thức thực hiện.

Hai là, Chính phủ, các bộ, ngành chưa hướng dẫn cụ thể quy trình, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch hoạt động của các Hội đối với các hoạt động gắn với nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao.

Do vậy, gây khó khăn không nhỏ cho quá trình lập - duyệt và cấp phát kinh phí hoạt động cho các Hội tại Trung ương và Địa phương.

Xác định rõ trí thức là ai để xây dựng chiến lược

Theo quan điểm này, Liên hiệp các Hội Khoa học- Kỹ thuật tỉnh Lào Cai đưa ra một số giải pháp để củng cố chính sách phát triển đội ngũ trí thức.

Trước hết, đề nghị Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đặc biệt là các bộ, ngành cần có hướng dẫn cụ thể về nội hàm, đặc điểm của đội ngũ trí thức. Xác định rõ người có trình độ nào được khẳng định là “Trí thức”. Để từ đó có cơ sở xây dựng chiến lượng, quy hoạch và chính sách phát triển đội ngũ trí thức cho phù hợp trong tình hình mới.

Hai là, đề nghị Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ ban hành quy định cụ thể về hoạt động tôn vinh trí thức Khoa học và Công nghệ tiêu biểu áp dụng trong phạm vi toàn quốc. Đồng thời, đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung việc áp dụng chế độ thù lao đọc và viết bài đánh giá các công trình, đề tài tham gia Giải hưởng, Hội thi, Cuộc thi về sáng tạo khoa học, kỹ thuật; hướng dẫn, giải thích việc áp dụng thanh toán thù lao cho các thành viên Ban Tổ chức, Ban Thư ký các Gải thưởng, Hội thi, Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật.

Ba là, đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các bộ, ngành có liên quan sớm tham mưu cho Quốc hội ban hành Luật Truyền thông và Phổ biến kiến thức. Trước mắt cần tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định về hoạt động Truyền thông và Phổ biến kiến thức hoặc trực tiếp ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Khoản 2 Điều 48 Luật Khoa học và Công nghệ, năm 2013 về công tác truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ.

Bốn là, đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Bộ Tài chính và các cơ quan, đơn vị có liên quan ban hành Thông tư quy định hoặc hướng dẫn quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động tư vấn, phản biện với đầy đủ quy trình nghiệp vụ như đối với hoạt động KHCN. Để các địa phương có cơ sở pháp lý đầy đủ trong việc tham mưu tổ chức thực hiện hoạt động này tại địa phương.

Năm là, Bộ Nội vụ, Liên hiệp Hội Việt Nam cần phối hợp làm sáng tỏ và báo cáo Đảng, Nhà nước, Chính phủ rõ ràng về vai trò, địa vị pháp lý của Liên hiệp Hội Việt Nam cùng với vị trí của đội ngũ cán bộ, người làm việc trong Cơ quan chuyên trách Liên hiệp Hội Trung ương và Địa phương để làm cơ sở xây dựng các cơ chế, chính sách đối với tổ chức và đội ngũ cán bộ, người làm việc trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam.

Sáu là, đề nghị Quốc hội sớm ban hành Luật về Hội. Trước mắt, khi Luật về Hội chưa được ban hành, đề nghị Chính phủ sớm sửa đổi Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 theo hướng khẳng định cụ thể Liên hiệp Hội là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức do Đảng chỉ đạo, Nhà nước thành lập và Đảng, Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện cho Liên hiệp Hội hoạt động.

Bẩy là, đề nghị Bộ Tài chính tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định hoặc trực tiếp ban hành Thông tư hướng dẫn thủ tục, trình tự giao kinh phí hoạt động cho các tổ chức hội (trong đó có Liên hiệp Hội) gắn với nhiệm vụ Đảng, Nhà nước giao theo Luật ngân sách năm 2015.

Tám là, đề nghị Liên hiệp Hội Việt Nam chủ động xây dựng đề án tổng thể về cơ cấu tổ chức, vị trí việc làm, số lượng người làm việc và nâng cao năng lực hoạt động của toàn hệ thống; đồng thời tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện.

Đề án cần được xây dựng trên quan điểm: Thống nhất về cơ cấu tổ chức của Liên hiệp Hội trong cả nước; Xác định cụ thể được chức năng, nhiệm vụ đặc biệt là phân định rõ được đâu là nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước giao; đâu là nhiệm vụ do Liên hiệp Hội đề xuất hoặc được các cơ quan, đơn vị khác đặt hàng?

Bên cạnh đó, cần có được chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cụ thể cho đội ngũ cán bộ, người làm việc trong hệ thống Liên hiệp Hội.

Việc hoàn thiện được đề án này sẽ là cơ sở để các địa phương tiếp tục cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tế của mỗi địa phương, đơn vị.
 
Cúc Phương