Tranh luận nóng

KH&CN là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế

Thứ Hai, 20/07/2020 14:28

(Diễn đàn trí thức) - Đến 2030 khoa học và công nghệ Việt Nam trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp để xây dựng nền kinh tế hiện đại có năng lực cạnh tranh cao.

Ông Lê Duy Tiến, Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban KHCN&MT VUSTA cho biết, vấn đề hội nhập về Khoa học và công nghệ là vô cùng quan trọng để đưa đất nước phát triển theo hướng bền vững và tích cực hội nhập quốc tế cả về kinh tế, thương mại.

KH&CN la lục luọng sản xuát trục tiép cua nen kinh te
Lê Duy Tiến, Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Liên hiệp Hội Việt Nam.

Phát biểu tại Diễn đàn khoa học "Hướng tới một chiến lược phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh cảnh trạng thái bình thường mới và biến đổi khí hậu toàn cầu" được tổ chức sáng 1/7, ông Lê Duy Tiến nêu rõ: "Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là vấn đề đã được Đảng ta khẳng định và luôn quan tâm chỉ đạo sát sao qua 3 nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây X, XI, XII, mặc dù điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta đã đánh giá rất cao, quan tâm và luôn chú trọng đến việc xây dựng và phát triển khoa học và công nghệ".

Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020: Các mục tiêu cụ thể về phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và trên 2% GDP vào năm 2020; Bảo đảm mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ không dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm; Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 11-12 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 10.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.

Trong giai đoạn 2011- 2020, nhận thức về vai trò, vị trí của KH&CN ngày càng được nâng lên, được xác định là quốc sách hàng đầu nên trong những năm qua KH&CN đã có vai trò và đóng góp quan trọng vào sự phát triển KT-XH và đảm bảo quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chính sách, pháp luật về KH&CN từng bước được hoàn thiện phù hợp với  Hiến pháp 2013. Hệ thống văn bản hướng dẫn chính sách, pháp luật cơ bản khắc phục được các mâu thuẫn, chồng chéo, tạo điều kiện bình đẳng, rộng mở cho mọi thành phần xã hội phát huy sáng tạo và tham gia đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN. Quản lý nhà nước về KH&CN đã chú trọng hướng vào mục tiêu đổi mới; chất lượng nghiên cứu trong những ngành, lĩnh vực quan trọng được chú trọng và nâng cao; nguồn lực dành cho KH&CN được tăng lên.

Trong giai đoạn này, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nghị định, quyết định để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật đã được ban hành, đã có khoảng 230 thông tư, thông tư liên tịch được ban hành và đang còn hiệu lực. Trong đó quan trọng nhất là các nghị định số 08/2014, 11/2014, 23/2014, 40/2014, 95/2014 và 87/2014 hướng dẫn thi hành Luật KH&CN năm 2013 với nhiều cơ chế, chính sách đột phá. Quyết định 844/2017 của Thủ tướng Chính phủ về Khởi nghiệp Quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào khởi nghiệp trên nền tảng phát triển KH&CN.

Nguồn nhân lực KH&CN tăng nhanh về số lượng. Hạ tầng kỹ thuật một số lĩnh vực then chốt từng bước được hiện đại hóa. Một số trường đại học, viện nghiên cứu đã thay đổi phương thức giảng dậy, nghiên cứu theo mô hình tiên tiến, gắn với yêu cầu thực tiễn. Khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng một số lĩnh vực như y sinh, nông nghiệp, công nghệ thông tin… đạt trình độ khu vực và thế giới, đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, nhất là các mặt hàng xuất khẩu.

Chỉ số đổi mới sáng tạo tăng nhanh. KHXH&NV đã có đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Thị trường công nghệ đã gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh.

Hệ thống bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ được tăng cường, góp phần minh bạch hóa môi trường nghiên cứu và sản xuất kinh doanh. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đo lường đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, phát triển sản xuất và hội nhập quốc tế.

Môi trường dân chủ trong nghiên cứu, tư vấn, phản biện khoa học được đề cao. KH&CN đang tích cực góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Hoạt động đổi mới sáng tạo trong khối sản xuất, kinh doanh đã góp phần hình thành xu hướng xã hội hóa trong đầu tư, phát triển KH&CN.

Bên cạnh đó vẫn tồn tại một số bất cập: Một số chủ trương, chính sách về KH&CN chậm hoặc chưa được thể chế hóa kịp thời, đồng bộ; việc tổ chức thực hiện thiếu quyết liệt và hiệu quả chưa cao. Sự liên kết hữu cơ giữa giáo dục - đào tạo, nghiên cứu KH&CN với sản xuất - kinh doanh chưa được thể chế rõ ràng làm giảm hiệu quả của mối liên kết trong thực tiễn.

Cơ chế, chính sách tài chính cho KH&CN còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa được giải quyết dứt điểm. Đầu tư cho KH&CN chủ yếu từ NSNN, huy động nguồn lực từ xã hội, đặc biệt là từ khu vực tư nhân cho phát triển KH&CN còn thấp. Hầu hết các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước thiếu động lực, chưa hình thành nhu cầu tự thân để đầu tư cho R&D và đổi mới công nghệ. Thiếu các hành lang pháp lý để huy động nguồn lực từ xã hội tham gia đầu tư cho KH&CN và để phát huy vai trò của các tổ chức KH&CN ngoài công lập. Hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN cho người dân và doanh nghiệp chưa được coi trọng đúng mức. Việc tham gia tư vấn, phản biện và giám sát xã hội của trí thức còn chưa được quan tâm đúng mức.

Đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ trí thức KH&CN còn nhiều bất cập. Số lượng chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học, kỹ sư chuyên nghiệp, tập thể KH&CN mạnh chưa đạt chỉ tiêu đề ra. Các viện nghiên cứu, trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế còn ít.

Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn CGCN, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng chưa được trang bị đủ cơ sở vật chất. Việc hình thành các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ hiện mới ở giai đoạn khởi đầu. Thị trường KH&CN phát triển chưa tương xứng với quy mô tăng trưởng kinh tế.

Liên Hiệp Hội Việt Nam góp ý với chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2021-2030

Bối cảnh trong nước và quốc tế có những thuận lợi va thách thức nhất định. Thế giới đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.Khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nền kinh tế dựa vào tri thức trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 quyết định chất lượng phát triển của mỗi quốc gia.

Các nước phát triển nắm giữ và chi phối thị trường các công nghệ tiên tiến đang đưa nền kinh tế phát triển theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường và tìm cách chuyển giao những công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, gây ô nhiễm cho các nước kém phát triển.

Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.

Vấn đề biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức lớn của nhân loại, ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới.

Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập kinh tế toàn cầu, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Thách thức lớn nhất với nước ta với KH&CN là vốn đầu tư hạn hẹp, nước ta vẫn nằm trong số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, năng lực quản trị quốc gia, trình độ phát triển còn thấp.

Khối các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và vừa không có tiềm lực để đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự có nhu cầu tự thân đổi mới công nghệ vì còn dựa vào những lợi thế và đặc quyền.

Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Vai trò của các tổ chức xã hội như hội, hiệp hội còn chưa được chú trọng trong việc tham gia các dịch vụ công chuyển giao từ khu vực nhà nước. Nhiều lĩnh vực mà các hội, hiệp hội cần phải làm thay cho Nhà nước như xây dựng, thẩm định, đánh giá các tiêu chuẩn, quy chuẩn quản lý chất lượng; đào tạo, đào tạo liên tục để nâng cao trình độ; vấn đề quản lý đạo đức hành nghề và cấp chứng chỉ hành nghề; tư vấn, phản biện, đề xuất, kiến nghị về chính sách,… vẫn do các cơ quan Nhà nước chi phối là triệt tiêu các động lực phát triển trong xã hội.

Quan điểm của Liên hiệp Hội Việt Nam: Khoa học và Công nghệ thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, là động lực chính để phát triển bền vững đất nước, phải đóng vai trò chủ đạo tạo ra giá trị gia tăng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và là một ngành kinh tế mũi nhọn. Đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư phát triển, ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN, Nhà nước và các thành phần kinh tế cùng có trách nhiệm tăng cường đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN.

Do vậy, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện, đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý và cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính; Phát triển thị trường KH&CN, giải phóng mọi tiềm năng trí tuệ, khuyến khích đổi mới, sáng tạo khoa học và công nghệ của các thành phần kinh tế và mỗi công dân; Tạo cơ chế, chính sách đột phá trong hoạt động KH&CN để tăng năng lực cạnh tranh; Hoàn thiện chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đầu tư phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, thị trường và yêu cầu của xã hội quyết định các hướng công nghệ ưu tiên và các sản phẩm KH&CN. Doanh nghiệp và các tổ chức dịch vụ công là trung tâm của đổi mới sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo.

Việt Nam cần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ nhằm sớm đuổi kịp các nước tiến tiến trong khu vực và quốc tế về trình độ KH&CN, hỗ trợ nền kinh tế đáp ứng kịp thời các yêu cầu của các hiệp định CPTTP, EVFTA và các hiệp định thương mại khác.

Liên hiệp Hội Việt Nam đề xuất mụ tiêu tổng quát cho chiến lược mới: Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ, gắn đổi mới KH&CN với đổi mới giáo dục - đào tạo. Tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo, đến 2030 khoa học và công nghệ Việt Nam trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp để xây dựng nền kinh tế hiện đại có năng lực cạnh tranh cao, Việt Nam vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” trở thành nước công nghiệp hiện đại. KH&CN Việt Nam có nhiều lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong ASEAN và thế giới.

Cụ thể: Khoa học xã hội và nhân văn tập trung nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cho việc cải cách thể chế, đổi mới hệ thống chính trị đi đôi với đổi mới thể chế kinh tế; hoạch định đường lối, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các giải pháp phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền kinh tế khu vực và thế giới; giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn khác do cuộc sống đặt ra.

Khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ góp phần quyết định nâng cao chất lượng về tăng trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế. Đến năm 2030, khoa học và công nghệ phải góp phần quyết định vào việc tạo ra một số ngành kinh tế mũi nhọn ứng dụng công nghệ cao. Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng GDP đến năm 2030 đạt trên 50%. Việt Nam nằm ở tốp đầu về năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực đổi mới sáng tạo trong các nước ASEAN.

Số lượng công trình KH&CN công bố quốc tế tăng trung bình 15 - 20%/năm. Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2021 - 2030 tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2011 - 2020, trong đó tăng nhanh số lượng sáng chế được tạo ra từ các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước.

Phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt từ 2,2 - 2,5% GDP vào năm 2030. Bảo đảm mức chi cho khoa học và công nghệ đạt trên 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm.

Đến năm 2030, số người nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 14-15 người trên một vạn dân. Đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế kỹ sư chuyên nghiệp đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành các dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.

Đến năm 2030, phần lớn các tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng cấp quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ. Hình thành mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ đủ năng lực hội nhập quốc tế, gắn kết chặt chẽ với đào tạo, sản xuất, kinh doanh. Các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao chiếm tỷ trọng 5-10% trong tổng số các doanh nghiệp hoạt động.

Đến năm 2030, làm chủ một số công nghệ quốc gia trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, hạ tầng mạng Viễn thông 5G, dịch vụ y tế và dược phẩm, công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp… thông qua đầu tư KHCN trong nước. v.v...

Cúc Phương