Tranh luận nóng

Kiên Giang và mối lo khai thác thủy điện sông Mekong

Thứ Sáu, 21/10/2016 08:37

(Diễn đàn trí thức) - Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân Kiên Giang.

Phạm vi xâm nhập mặn nêu trên vượt so với mức trung bình nhiều năm trước đây, ít nhất 5-10 Km đối khu vực ven biển Tây; 10-15 Km ở khu vực sông Vàm Cỏ và sông Hậu, đến lớn nhất 20-25 Km đối với sông Tiền. Kết quả quan trắc cũng cho thấy độ mặn lớn nhất cũng cao hơn so với mức lớn nhất cùng kỳ trong lịch sử.

Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nêu trên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân Kiên Giang và nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tổng diện tích cây trồng bị thiệt hại trong vùng ĐBSCL  là 126.798 ha. Các tỉnh có diện tích thiệt hại nhiều là Cà Mau 49.343 ha, Kiên Giang là 34.093 ha, Bạc Liêu: 11.456 ha và Bến Tre là 10.755 ha.

Mặt Khác, theo đánh giá của các nhà khoa học, việc phát triển Thuỷ điện ở thượng lưu sông Mê  Kông của Trung Quốc và trung lưu của Lào và các nước đã giữ lại 75% lượng phù sa; "số phù sa còn lại vào ĐBSCL sẽ giảm từ 26 triệu tấn, còn 7 triệu tấn/năm"2.

Do vậy, diện tích trồng của Kiên Giang và ĐBSCL tới đây sẽ giảm vì thiếu lượng Phù Sa. ĐBSCL sẽ không còn tình trạng sống chung với lũ. Ngoài ra, hạn hán, xâm nhập mặn cũng đã ảnh hưởng lớn đến việc cấp thoát nước sinh hoạt tại một số khu vực sử dụng nước mặt, nhất là các vùng chưa có công trình cấp nước, tập trung ở các khu vực ven sông, ven biển như Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang, Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu.

Mặt khác, do nguồn nước cạn kiệt tình trạng ô nhiễm môi trường trong khu vực ĐBSCL cũng ngày càng phát triển theo hướng tiêu cực làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân trong vùng ĐBSCL.

3.2. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xâm nhập mặn ở ĐBSCL và Kiên Giang.

Có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu  là:

Thứ nhất, do hiện tưởng ElNiNo mạnh và kéo dài kỷ lục  từ năm 2014 đến tháng 5/2016  làm lượng mưa trên toàn lưu vực suy giảm mạnh (khoảng 45% so với lượng mưa trung bình nhiều năm cùng kỳ, lượng mưa trong tháng 1/2016 ở trên toàn lưu vực sông Mê Kông đều sụt giảm nghiêm trọng: sụt giảm 24% ở thượng lưu thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc; 85% thuộc trung Lưu ở Thái Lan, Lào, Tây Nguyên của Việt Nam và Biển hồ thuộc Căm-Pu-Chia cũng sụt giảm trên 85%. Riêng ĐBSCL, lượng mưa  sụt giảm 30% trong tháng 12/2015, còn tháng 1/2016 sụt giảm tới 100% so với mức trung bình nhiều năm)3.

Thứ hai, do chế độ vận hành, điều tiết của hệ thống các hồ chứa nước trên thượng nguồn sông Mê Kông.

 Ở thượng nguồn phía Trung Quốc có riêng 02 hồ chứa Tiểu Loan và Nộ Trác Độ đã có tổng dung tích tới 22 tỷ m3, còn trên các dòng nhánh (chủ yếu thuộc Lào) các hồ chứa cũng có dung tích khoảng 20 tỷ m3. Với tổng dung tích khoảng 42 tỷ m3, các hồ trên có khả năng điều tiết dòng chảy rất lớn. Nếu chia đều lượng nước để vận hành, điều tiết liên tục trong 6 tháng mùa khô, thì hằng ngày có thể bổ sung thêm khoảng 2.700m3/s. Đây là một lượng nước quyết định đến dòng chính sông Mê Kông và dòng chảy về Việt Nam. Vì vậy, nếu các hồ này không chịu vận hành phát điện, kèm theo là xả nước xuống hạ du, thì dòng chảy  về ĐBSCL sẽ thiếu nước nghiêm trọng.

Thứ ba, do suy giảm dòng chảy trên Biển Hồ và gia tăng khai thác ở khu vực trung lưu.

- Theo quan trắc kiểm soát dòng chảy của Biển Hồ trên sông TonLe Sáp cho thấy cuối mùa lũ 2015, mực nước thấp chỉ đạt 50% so với trung bình nhiều năm, dòng chảy trong tháng 01/2016 sụt giảm 70%, tháng 2/2016 thụt giảm lên tới 77% so với trung bình nhiều năm.

Thứ tư, gia tăng khai thác ở khu vực trung lưu. Gần đây, ở Thái Lan, báo chí cho biết có hai trạm bơm dã chiến đặt tại cửa sông Huổi Luông và Na Khom Pha Nôm, có tổng công suất khoảng 25-30 m3/s. Ngoài ra, Cục Tưới nước Hoàng gia Thái Lan còn có một số trạm bơm dã chiến khác dọc sông MêKông, ước tính lượng nước khai thác dự trữ mùa khô để giải quyết tưới tiêu cho nông nghiệp lên tới trên 10% dòng chảy vào mùa khô của khu vực này.

Thứ năm, dòng chảy đến Tân Châu, Châu Đốc trước khi vào ĐBSCL sụt giảm.

Do lượng mưa sụt giảm, dẫn đến dòng chảy trên sông sụt giảm. Theo quan trắc dòng chảy tại Tân Châu, Châu Đốc tháng 12/2015 sụt giảm 50%; tháng 01/2016 sụt giảm 45%, tháng 02/2016 sụt giảm 32%; tháng 03/2016 sụt giảm 24% so với trung bình nhiều năm.

Thứ sáu, do triều cường tăng cao.

Từ số liệu thực đo thuỷ triều Biển Đông mùa khô 2016 cho thấy, đỉnh triều ngang bằng đỉnh triều lớn nhất lịch sử, chân triều cao hơn chân triều lớn nhất khoảng 0,1-0,2 m và trung bình triều cao hơn trung bình nhiều năm  khoảng 0,3-0,6 m. Biển Tây cũng có chân triều cao hơn chân triều lớn nhất khoảng 0,2-0,3m và trung bình cao hơn trung bình nhiều năm, khoảng            0,4-0,6m. Như vậy, mực nước biển cao hơn mực nước sông nên xâm nhập mặn là điều không tránh khỏi ở cùng ĐBSCL và Kiên Giang.

 3.3. Giải pháp phòng chống, hạn hán, xâm nhập mặn Kiên Giang và  ĐBSCL.