Tranh luận nóng

Nhà nước đổi mới tư duy về chuyển giao dịch vụ công

Thứ Tư, 20/11/2019 18:05

(Diễn đàn trí thức) - Nhà nước cần chủ động thực hiện chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức hội dưới nhiều hình thức: tư nhân hóa, ủy quyền, ủy thác...

Ngày 13/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên Hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Diễn đàn Khoa học "Nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội nhằm thực hiện dịch vụ công" với đông đảo sự tham gia của các nhà khoa học. Tham gia diễn đàn, Tạ Ngọc Hải - Tiến sĩ, chuyên viên cao cấp, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ đã có bài tham luận. Báo Đất Việt xin trích toàn văn tham luận này.

Nha nuoc doi moi tu duy ve chuyen giao dich vu cong
TS. Tạ Ngọc Hải - Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Quan điểm của Đảng về xã hội hóa dịch vụ công

Quan điểm của Đảng về xã hội hóa dịch vụ công thể hiện trong văn kiện Đại hội, Nghị quyết Trung ương, Thông tư, Chỉ thị…[1]. Thông qua nghiên cứu nội dung các văn bản theo nguồn nêu trên về xã hội hóa dịch vụ công cho thấy:

- Nhận thứcđầy đủ hơn, toàn diện hơn về vai trò, chức năng phục vụ của nhà nước đối với xã hội. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, đặc biệt là cho những vùng nghèo, người nghèo, bảo đảm những dịch vụ cơ bản cho nhân dân. Đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, vận dụng hợp lý những mặt tích cực của cơ chế thị trường”[2];

- Từng bước định hình rõ nét hơn quan điểm coi trọng vai trò của xã hội đối với việc cung ứng dịch vụ công, giải quyết những vấn đề của xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng VIIIđã nêu “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội”[3]. Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định: “Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”[4];

- Đẩy mạnh xã hội hóacác loại hình, chủ thể, phương thức cung ứng dịch vụ công. Văn kiện Đại hội Đảng X xác định “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo” và “Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin với bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng”[5];

- Từng bước hiện thực hóa lý luận "Nhà nước nhỏ - Xã hội lớn" trong cung ứng dịch vụ công đối với xã hội. Nghị quyết số 19 - NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thức sáu Ban chấp hành trung ương XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp với chủ trương thu gọn, giảm quy mô của các tổ chức công lập và "Đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã hội hoá dịch vụ sự nghiệp công"[6].

2. Chuyển giao dịch vụ công cho các hội cung ứng

-Trên cơ sở điểm lại những văn bản quan trọng của Đảng liên quan đến "Xã hội hóa dịch vụ công" cho thấy quan điểm, chủ trương là đủ rõ và theo đó Nhà nước đã xác lập các cơ sở pháp lý cần thiết [7] để các tổ chức hội tham gia cung ứng dịch vụ công theo hướng xã hội hóa. Như vậy xã hội hóa cũng là một trong số những phương thức, cách thức chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công từ nhà nước qua các hội và chủ thể khác ngoài khu vực công cung ứng.

- Cùng với việc thực hiện xã hội hóa, trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu hình thành chủ trương, chính sách về đa dạng hóa cung ứng dịch vụ công trong đó chuyển giao một số dịch vụ công do nhà nước cung ứng qua các hội, tổ chức phi chính phủ và các chủ thể khác thực hiện việc cung ứng theo nguyên tắc "Đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường". Chú trọng giao cho các hội thực hiện nhiều hơn nhiệm vụ tư vấn, giám định, phản biện, giám sát xã hội đối với các nhiệm vụ, hoạt động của nhà nước (do các cơ quan, tổ chức của nhà nước thực hiện) thông qua cơ chế giao việc, giao ngân sách và cao hơn là định hình khung pháp lý (lấy ý kiến, có ý kiến, được quyền tham gia…) trong các quy định của luật nội dung theo ngành, lĩnh vực và luật về hội.

- Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới hơn nữa nhận thức về dịch vụ công để thực hiện đa dạng hóa các hình thức thức cung ứng. Có thể biểu đạt đổi mới nhận thức về dịch vụ công qua hai sơ đồ sau:

Nha nuoc doi moi tu duy ve chuyen giao dich vu cong
Sơ đồ tư duy về dịch vụ công cũ và mới.

Sự khác nhau trong cách tiếp cận sẽ đưa đến quan điểm khác nhau trong phân loại, từ đó định hình chủ trương, chính sách đối với dịch vụ công. Ví dụ: theo cách tiếp cận mới "Dịch vụ công - Public services" được quan niệm theo hai hướng là Dịch vụ công do Nhà nước cung ứng và Dịch vụ công do các tổ chức ngoài khu vực công cung ứng. Từ đó hình thành, tạo ra cạnh tranh lành mạnh trong cung ứng dịch vụ gữa khu vực công với khu vực tư để hướng tới sự công bằng hơn trong cơ hội (cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội nói chung) và cùng với đó là nâng cao chất lượng phục vụ, cải thiện tính chuyên nghiệp.

Từ đổi mới tư duy đối với dịch vụ công đi đến đa dạng hóa hình thức cung ứng như:

- Tư nhân hoá (Privatization). Nhà nước chuyển giao toàn bộ quyền cung ứng dịch vụ cho tư nhân. Nhà nước sẽ thực hiện thanh tra, kiểm tra khi có nghi vấn vi phạm các quy định của pháp luật đối với việc cung ứng dịch vụ. Các dịch vụ công cộng thực hiện tư nhân hoá thường phải đáp ứng được các yêu cầu như: những dịch vụ mà bằng pháp luật nhà nước có thể kiểm soát được; việc cung ứng dịch vụ có thể bù đắp được chi phí; khả năng khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm tốt việc cung ứng dịch vụ;

- Uỷ quyền (Licensing). Có hai hình thức là uỷ quyền toàn phần và uỷ quyền một phần. Trong uỷ quyền toàn phần, nhà nước chỉ thực hiện nhiệm vụ tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể khác hoạt động cung ứng dịch vụ (ví dụ: cấp giấy phép, giấy chứng nhận hoạt động), nhưng không tham gia vào bất kỳ một công đoạn nào của hoạt động cung ứng. Khác với uỷ quyền toàn phần, trong uỷ quyền một phần nhà nước có thể vẫn giữ lại cho mình quyền thực hiện một hoặc một số hoạt động nào đó của quá trình cung ứng dịch vụ. Việc uỷ quyền có thể được thực hiện đối với một số loại dịch vụ công cộng cụ thể trong thời gian hạn định, nhưng cũng có thể được thực hiện với nhiều loại dịch vụ công cộng với thời gian tuỳ thuộc vào nhu cầu xã hội đối với dịch vụ công cộng đó, vào khả năng thực hiện của các chủ thể được uỷ quyền, vào khả năng phát triển của xã hội và vào năng lực của nhà nước. Nói cách khác, nhà nước sẽ phải trực tiếp cung ứng khi chủ thể được uỷ quyền không đáp ứng được yêu cầu cung ứng các dịch vụ công cộng đó hoặc nhà nước có khả năng thực hiện tốt hơn hoặc khi nhà nước thực hiện sẽ có lợi hơn so với các chủ thể khác;

- Hợp danh (Partnership). Trong trường hợp này nhà nước cùng với các chủ thể khác đóng góp nguồn lực để cùng thực hiện cung ứng dịch vụ, cùng chia sẻ rủi ro, thụ hưởng lợi ích từ việc cung ứng dịch vụ mang lại. Hợp danh có những điểm tương đồng với uỷ quyền một phần ở chỗ có sự tham gia của cả hai dạng chủ thể là nhà nước và phi nhà nước. Điểm khác giữa hợp danh với uỷ quyền một phần là việc thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ theo hợp danh phải do một chủ thể liên danh thực hiện (thường là công ty liên danh giữa nhà nước với tổ chức không phải là nhà nước). Hợp danh là hình thức mà qua đó nhà nước sẽ có cơ hội tận dụng những cơ sở vật chất sẵn có, nguồn nhân lực, kinh nghiệm của đối tác và những ưu thế của thị trường. Bằng việc cấp vốn, nhà nước vẫn chi phối việc cung cấp các dịch vụ công cộng, bảo đảm việc cung ứng không bị quy luật thị trường chi phối, thao túng, đảm bảo chất lượng ổn định và giá cả đáp ứng được nhu cầu của người dân. Nhà nước không phải tổ chức ra bộ máy cồng kềnh, không phải tăng thêm nhân lực mà vẫn đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội;

- Mua của bên ngoài (External Purchase). Trường hợp này khác hơn so với các trường hợp trên ở chỗ, nhà nước hợp đồng với các chủ thể khác mua dịch vụ của họ để cung ứng cho cộng đồng xã hội và theo đó nhà nước chịu trách nhiệm về dịch vụ đối với xã hội (vì là chủ thể cung ứng). Ưu điểm của cách làm này là nhà nước không cần đầu tư nhân lực cho việc cung ứng dịch vụ và việc kiểm soát chất lượng dịch vụ thuận lợi bởi thông qua hợp đồng;

- Uỷ thác (Devolution). Tức là nhà nước chuyển giao trách nhiệm cung ứng cho các chủ thể phi nhà nước và đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động cung ứng dịch vụ đó. Có thể đảm bảo một phần hoặc toàn bộ; trong trường hợp chỉ đảm bảo một phần thì tổ chức cung ứng dịch vụ có thể huy động thêm từ các nguồn khác. Uỷ thác là hình thức chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công cộng bằng hình thức: nhà nước không trực tiếp đứng ra tổ chức cung ứng cho người dân, không trực tiếp tổ chức các cơ sở, thành lập các đơn vị cung ứng, mà dùng ngân sách của mình ký hợp đồng (đơn đặt hàng) mua dịch vụ với các chủ thể khác (tổ chức xã hội, cá nhân, doanh nghiệp, v.v...) có năng lực, khả năng cung ứng để các chủ thể này cung ứng; nhà nước chỉ giữ quyền kiểm soát về số lượng, chất lượng, giá cả, phí thông qua hợp đồng giữa hai bên;

- Cung ứng thông qua đại lý (Agency). Có nhiều dạng đại lý khác nhau, thực hiện các nhiệm vụ khác nhau như: đại lý thực hiện tư vấn, quản lý (Regulatory Agency) - đại lý quản lý; đại lý thực hiện nhiệm vụ thực hành, tác nghiệp (Operational Agency) - đại lý tác nghiệp. Các đại lý này phải đảm bảo các yêu cầu về năng lực theo quy định để được lựa chọn thực hiện cung ứng dịch vụ.

Theo đó việc chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức hội, các chủ thể khác trong xã hội cung ướng thay vì "bị động" như hiện này, chuyển qua "chủ động" thực hiện cung ứng theo cơ chế thị trường. Để làm được như vậy cùng với việc đổimới tư duy, hoàn thiện khung pháp lý về dịch vụ công… Đối với các hội cần nâng cao năng lực và chứng minh năng lực của mình trong đảm nhiệm cung ứng dịch vụ công. Làm được như vậy thì nhà nước không thể không chuyển giao khi chất lượng, hiệu quả cung ứng từ các chủ thể ngoài nhà nước được khẳng định trên thực tế.

  • Tạ Ngọc Hải
    Phó viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Chú thích:

[1] Ngoài nguồn văn bản nên trên còn có văn bản quy phạm pháp luật. Trong bài viết này tập trung vào hai nhóm văn bản củaĐảng là Nghị quyếtĐại hộiĐại biểu toàn quốc và Nghị quyết Hội nghị Trung ương - Tác giả chú thích

[2]Xem: Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia tháng 11 năm 2017

[3]Xem: Văn kiệnđại hộiĐảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia

[4]Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia

[5]Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia

[6]Xem: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thức sáu Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XII

[7] Thông qua các luật, Nghị định, Thông tư và cácvăn bản của các địa phương - Tác giả chú thích