Tranh luận nóng

PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh: Bỏ biên chế cứng thêm nữa

Thứ Sáu, 23/11/2018 14:57

(Diễn đàn trí thức) - Để giảm biên chế, hãy bỏ thêm các biên chế cứng, mở rộng hình thức hợp đồng trong công việc.

Tinh giản biên chế được xác định là yêu cầu cấp thiết trong cải cách chế độ
công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay.

Chính phủ đã ban hành Kế hoạch thực hiện NQ 39 nhằm xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai, thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 39.

PGS.TS. Dang Ngoc Dinh: Bo bien che cung them nua
PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh tham gia Diễn đàn khoa học “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW”

Một số nội dung quan trọng của Kế hoạch gồm: (i) Bảo đảm đến năm 2021 không tăng tổng biên chế; (ii) Tuyển dụng không quá 50% số cán bộ, công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế; (iii) Đẩy mạnh kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công chức; (iv) Bổ nhiệm chức danh chuyên gia, chuyên viên cao cấp.

Tuy nhiên, trong nhiều năm, tình hình biên chế của hệ thống công vụ ở Việt Nam vẫn rất cồng kềnh, kém hiệu quả.

Bộ máy nhà nước tính đến năm 2017 có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức, viên chức. Tức 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức. Một nghịch lý là bộ máy có xu hướng ngày càng phình to?

Tính đến năm 2017 ở Việt Nam có đến 11 triệu người hưởng lương từ ngân sách, bao gồm cả các đối tượng chính sách, gánh nặng chi lương là rất lớn. Việc giảm chi nuôi bộ máy đã từng bước được thực hiện song kết quả còn khá khiêm tốn.

Đến nay hệ thống cồng kềnh của biên chế công vụ Việt Nam vẫn ở trong top đầu của nhóm nước ASEAN, với 4,8% công chức trên dân số (tương đương mức 20 người dân sẽ có 1 công chức – viên chức hưởng lương), nhỉnh hơn Thái Lan, Nhật Bản và bỏ xa các nước còn lại.

Mặc dù lương công chức ở Việt Nam rất thấp, nhưng tổng chi lương của Việt Nam tương đối cao so với các quốc gia khác trong khu vực và tương đương các quốc gia thu nhập trung bình.

Tỷ lệ chi lương tính trên GDP đến 2020 có thể lên đến 11,1% GDP, cao hơn so với tỷ lệ hiện nay của các quốc gia thu nhập cao.

Theo PGS. TS. Đặng Ngọc Dinh, nguyên nhân khiến tình trạng khó thay đổi là việc văn bản luật chuyên ngành không thuộc hệ thống văn bản pháp luật về tổ chức nhà nước lại quy định cứng về số lượng biên chế.

Sự cứng nhắc này là do sự sáp nhập để giảm biên chế nhưng nó lại khiến số lượng biên chế phải tăng lên để đáp ứng yêu cầu bố trí công việc cho bộ máy mới thành lập, bố trí nhân sự thực hiện nhiệm vụ mới phát sinh. Đây là một nghịch lý không thể chấp nhận được.

Cùng với đó là cơ chế quản trị, vẫn còn tồn tại cơ chế "xin - cho" thời bao cấp, đặc biệt trong tuyển chọn, lựa chọn cán bộ, công chức, viên chức.

Hệ thống tuyển chọn không công bằng, lựa chọn người quen vào trong tổ chức "một người làm quan, cả họ được nhờ" cùng với hệ thống bầu cử thiếu thực chất đã khiến bỏ sót không ít người tài.

Một thực tế là dù luôn than thở lương công chức thấp nhưng người người, nhà nhà đều muốn con em được vào biên chế.

Tình trạng tham nhũng càng khiến nhu cầu được vào biên chế tăng lên. Ai cũng muốn được vào Nhà nước để "hưởng lộc" từ cấp trên. Cán bộ chăm chăm được cấp trên quan tâm cất nhắc chứ không cần tới sự hài lòng của người dân.

Thứ ba, một hệ thống khổng lồ các tổ chức đoàn thể đang được hưởng lương, dù mức lương này là thấp song số lượng người hưởng ở mức khổng lồ khiến cho mức chi ngân sách cho lực lượng này rất lớn. Việc giảm biên chế cũng trở nên khó khăn do ảnh hưởng cách thức quản trị từ thời Liên Xô.

Thứ tư, nhiều người có quan niệm vào biên chế, làm công chức để "kiếm tiền". Quan điểm này khác xa so với một số quốc gia phương Tây. Nhiều cán bộ phương Tây yêu thích hoạt động chính trị, muốn cống hiến. Họ tham gia vào công tác quản trị, quản lý không phải để "kiếm tiền". Nếu mong muốn làm giàu, họ sẽ làm kinh doanh. Cho đến nay, tư tưởng này ở Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Bỏ biên chế cứng, mở rộng hệ thống hợp đồng

PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh cho rằng, để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 39, cần xây dựng mô hình công vụ phù hợp với nền kinh tế thị trường đích thực, ở đó có cạnh tranh từng vị trí từ cán bộ, công chức, đến viên chức; ngoài yêu cầu đáp ứng tiêu chí tuyển chọn công bằng, minh bạch của cấp trên, còn thỏa mãn sự hài lòng của người dân, người sự dụng dịch vụ công và đóng thuế cho nhà nước.

PGS.TS. Dang Ngoc Dinh: Bo bien che cung them nua
Công chức chỉ lo lấy lòng cấp trên, không chú ý tới đánh giá của dân? Ảnh minh họa

Hành động cụ thể trước hết là cần cơ cấu lại đội ngũ công vụ theo lộ trình khả thi.

Cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo vị trí việc làm và trình độ đào tạo một cách hợp lý. Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tiến hành xã hội hóa một số lĩnh vực nhiệm vụ công, xem đây là khâu đột phá.

Số lượng đội ngũ xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, phải đi theo quy trình từ chức năng đến nhiệm vụ, từ nhiệm vụ đến việc làm, và từ việc làm đẻ ra lao động; chỉ có cách khoán biên chế, giao trách nhiệm cho người đứng đầu, chịu trách nhiệm trước pháp luật.