Tranh luận nóng

Phát huy tiềm năng của hệ thống Liên Hiệp Hội Việt Nam

Chủ Nhật, 01/12/2019 09:47

(Diễn đàn trí thức) - Liên hiệp Hội Việt Nam mới chỉ phối hợp hoạt động với các đơn vị Nhà nước, thiếu tính chất chỉ đạo, gắn kết chặt chẽ.

Tại Diễn đàn khoa học "Vai trò, trách nhiệm của Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam trong sự phát triển đất nước" được Liên hiệp các Hội Khoa ọc và Kỹ thuật Việt Nam (Liên Hiệp Hội Việt Nam) tổ chức sáng 8/11, ThS. Nguyễn Sinh Thành - Ban Tổ chức và Chính sách hội, Liên hiệp các Hội hoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã có bài tham luận điểm lại những đóng góp nổi bật của tổ chức trong 10 năm qua. Báo Đất Việt xin đăng lại toàn văn tham luận này:

Phat huy tiem nang cua he thong Lien Hiep Hoi Viet Nam
Một cuộc hội thảo phối hợp hoạt động giữa Liên hiệp Hội Việt Nam và Tổng Cục Biển và Hải đảo, Bộ Tài nguyên- Môi trường.

I. Đặt vấn đề

Trí thức có vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức. Nhiều tổ chức của trí thức đã được thành lập và phát triển. Được thành lập từ năm 1983, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) là một tổ chức chính trị-xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (KH CN) Việt Nam. Liên hiệp Hội Việt Nam có chức năng tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức KH&CN trong cả nước và ở nước ngoài; điều hoà, phối hợp các hoạt động phong phú và đa dạng của các hội thành viên; làm cầu nối giữa các hội thành viên với các cơ quan Đảng và Nhà nước; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức thành viên, của đội ngũ trí thức KH CN Việt Nam; có tiếng nói chung, thống nhất, đề đạt ý kiến chung với Đảng và Nhà nước, tham gia góp phần phát triển kinh tế -xã hội của đất nước.

Sau gần 40 năm hoạt động, Liên hiệp Hội Việt Nam không ngừng được củng cố và phát triển. Đến nay, Liên hiệp Hội Việt Nam có hệ thống 2 cấp: Trung ương và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Liên hiệp Hội Việt Nam đã trở thành tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp được đông đảo đội ngũ trí thức trong các hội KH CN hoạt động trên phạm vi toàn quốc và các Liên hiệp hội ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Liên hiệp Hội Việt Nam đã có đóng góp đáng kể cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

II. Những tiềm năng, thế mạnh của Liên hiệp Hội Việt Nam

Cùng với sự phát triển lớn mạnh về tổ chức, trong những năm qua, Liên hiệp Hội Việt Nam đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội của đất nước. Qua đó, Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên đã khẳng định được tiềm năng, thế mạnh của mình thông qua các hoạt động:

1. Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức KH&CN trong và ngoài nước

Kể từ khi thành lập, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết rộng rãi đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong nước với nhiều hình thức đa dạng, nội dung hoạt động phong phú, ngày càng thể hiện được vai trò của tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho trí thức KH&CN ở trung ương và địa phương. Cho đến nay, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tập hợp được trên 2,8 triệu hội viên, trong đó có trên 1,5 triệu trí thức tham gia, gồm 63 Liên hiệp Hội tỉnh, thành phố, 86 hội ngành toàn quốc, hơn 900 tổ chức KH&CN (là các viện, trung tâm nghiên cứu, liên hiệp khoa học sản xuất) trong đó có hơn 400 tổ chức trực thuộc Đoàn Chủ tịch, 01 Quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật, 01 nhà xuất bản và 101 báo chí với trên 400 ấn phẩm các loại.

Thông qua việc giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, trách nhiệm công dân, tính trung thực trong khoa học, đạo đức nghề nghiệp trong giới trí thức và tính tích cực xã hội đối với hội viên, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tạo dựng được môi trường tốt để đoàn kết đội ngũ trí thức KH&CN thực hiện và tham mưu cho Đảng và Nhà nước những vấn đề quan trọng về đường lối, chủ trương chính sách, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Mặt khác, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tích cực của Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền các cấp. Sự lãnh đạo sát sao của Đảng và sự quan tâm của Nhà nước thể hiện qua hàng loạt các văn bản chỉ đạo cũng như nhiều văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách được áp dụng ở trung ương và địa phương. Từ đó đã đặt cơ sở và tạo hành lang pháp lý cho việc thành lập, hoạt động và phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam, của các hội thành viên, đáp ứng nguyện vọng của trí thức KH&CN nước nhà. Với việc ban hành Chỉ thị 45-CT/TW ngày 11/11/1998, tính chất chính trị - xã hội của Liên hiệp Hội Việt Nam cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội khác đã được khẳng định. Đảng và Nhà nước đã giao cho Liên hiệp Hội Việt Nam thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, đã tác động tích cực đến sự phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam cả về quy mô tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động.

Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức có vai trò và trách nhiệm chính trị, đại diện cho đội ngũ trí thức KH CN Việt Nam, thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với trí thức KH CN, tập hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng và tâm huyết cũng như trí tuệ của trí thức KH CN góp phần xây dựng đất nước.

2. Tích cực, chủ động tham gia xây dựng và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước:

Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức đặc biệt chú trọng đến công tác tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức KH&CN cùng với các thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ động lựa chọn nhân sự và giới thiệu các trí thức tiêu biểu tham gia cơ quan dân cử các cấp, hình thành cơ chế tư vấn cho các đại biểu Quốc hội do Liên hiệp hội Việt Nam giới thiệu.

Với đội ngũ các nhà khoa học đông đảo, giàu lòng yêu nước, tâm huyết với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tích cực, chủ động huy động đội ngũ chuyên gia tham gia đóng góp ý kiến vào các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của trung ương và địa phương; đóng góp ý kiến vào việc hình thành, xây dựng và thực hiện các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, môi trường, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo.

3. Thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn, nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

Hoạt động thông tin, phổ biến kiến thức KH&CN: là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là thế mạnh của hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam, nơi tập hợp những nhà trí thức KH&CN giàu kinh nghiệm, tâm huyết trong việc truyền bá kiến thức cho nhân dân. Thông qua gần 400 tờ báo, tạp chí, bản tin, trang tin điện tử và nhà xuất bản, Liên hiệp Hội Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN trong nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người, góp phần vào sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, giáo dục và đào tạo, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phòng tránh những bệnh nguy hiểm có nguy cơ lan nhanh trong cộng đồng như HIV/AIDS, gìn giữ chủ quyền biển và hải đảo của đất nước. Liên hiệp Hội ở Trung ương và tỉnh, thành phố, các hội thành viên và các tổ chức KH&CN trực thuộc đã in ấn và phát hành hàng chục triệu tờ rơi, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, tư vấn pháp lý phù hợp với nhận thức của người dân; tổ chức hàng nghìn hội nghị, hội thảo, tập huấn phổ biến kiến thức, chuyển giao công nghệ cho người dân trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt chú trọng vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Hoạt động TVPB&GĐXH: Là thế mạnh đặc biệt của đội ngũ trí thức hoạt động trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam. Liên hiệp hội Việt Nam là địa chỉ tin cậy trong hoạt động TVPB GĐXH, phản ánh trung thực dư luận xã hội đối với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua hoạt động này, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tích cực vận động chính sách, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật, tạo điều kiện để trí thức tham gia góp ý kiến khách quan, thẳng thắn và có chất lượng cao về những vấn đề hệ trọng có liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, nhất là về KH&CN, giáo dục và đào tạo, chính sách đối với trí thức. Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên tổ chức đóng góp ý kiến có chất lượng vào nhiều dự thảo văn kiện của Đảng, dự án luật quan trọng của Nhà nước, hàng trăm chương trình, dự án, quy hoạch kinh tế-xã hội của quốc gia, ngành, địa phương, đặc biệt là các vấn đề nóng được xã hội quan tâm. Liên hiệp Hội ở Trung ương và tỉnh, thành phố cũng đã tích cực vận động, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật, tạo điều kiện để trí thức tham gia đóng góp ý kiến khách quan, thẳng thắn và dựa trên cơ sở khoa học về những vấn đề quan trọng có liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Hoạt động này được các cơ quan chức năng và dư luận xã hội ủng hộ, đánh giá cao.

Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: Hoạt động này ngày càng phát triển cả bề rộng và chiều sâu, gắn liền với sự phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam trong nhiều năm qua. Hằng năm, Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên đã triển khai hằng trăm đề tài nghiên cứu từ cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành đến cấp tỉnh, thành phố với kinh phí hằng trăm tỷ đồng, hướng nghiên cứu có phối hợp với các doanh nghiệp và thu hút đông đảo trí thức tham gia triển khai các đề tài, dự án. Các đề tài, dự án đều mang tính ứng dụng cao và được áp dụng vào thực tiễn, góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho người dân. Nhiều đề tài, dự án về bảo vệ môi trường đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân và xây dựng mô hình xã hội hoá các hoạt động trên lĩnh vực này. Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên đã tổ chức nhiều hội nghị khoa học cấp quốc gia và quốc tế, thu hút được hàng nghìn nhà khoa học trong và ngoài nước tham dự, có tác động tích cực đến sự phát triển nền KH&CN nước nhà. Các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội ở Trung ương và tỉnh, thành phố đã có những đóng góp đáng kể vào kết quả thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam, thu hút nhiều trí thức KH&CN tham gia hoạt động, góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn trí thức trẻ.

Công tác xã hội hoá hoạt động KH&CN, bảo vệ môi trường, giáo dục và đàotạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phát triển cộng đồng và xoá đói giảm nghèo: Thông qua việc tập hợp trí thức KH&CN, Liên hiệp Hội Việt Nam đã triển khai hàng trăm đề tài, dự án nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng KH&CN gắn với thực tiễn sản xuất và đời sống trên cơ sở huy động kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu xoá đói giảm nghèo, nâng cao năng lực, hỗ trợ kỹ thuật, tham gia tư vấn, phản biện từ phía cộng đồng, cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo với các doanh nghiệp và cá nhân.

Hoạt động tôn vinh trí thức, khuyến khích và thúc đẩy phong trào sáng tạo KH&CN Việt Nam: Hoạt động này nhằm thúc đẩy phong trào quần chúng tham gia các sáng tạo KH&CN, tôn vinh, khuyến khích các nhà khoa học, các nhà sáng tạo, kể cả các em thanh thiếu niên trong cả nước, tổ chức lễ trao giải, tôn vinh, đánh giá, ghi nhận những đóng góp cho KH CN nước nhà của các tập thể, cá nhân được lựa chọn, góp phần làm chuyển biến và nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam, các tổ chức thành viên đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm gần đây, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức 3 đợt tôn vinh trí thức KH&CN tiêu biểu vào các năm 2015, 2017, 2019 với trên 300 trí thức KH&CN tiêu biểu được tôn vinh. Đây được xem như một hình thức thi đua yêu nước, có ý nghĩa nhân văn rất lớn, thể hiện sự quan tâm, coi trọng, đãi ngộ của Đảng, Nhà nước đối với trí thức, đồng thời cũng là để khích lệ và ghi nhận các cá nhân có nhiều đóng góp tiêu biểu, xuất sắc trong sự nghiệp phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam và của đất nước. Thông qua hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức và của Liên hiệp Hội Việt Nam.

Hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế: Liên hiệp Hội Việt Nam luôn quan tâm và coi trọng việc phối hợp và hợp tác với các bộ, ngành, chính quyền địa phương trong việc tập hợp và phát huy vai trò của trí thức KH&CN; chủ động phối hợp với một số cơ quan Trung ương trong công tác chỉ đạo, xây dựng và thực hiện chính sách liên quan đến lĩnh vực KH&CN, giáo dục và đào tạo, công tác vận động trí thức. Bên cạnh đó, thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước, Liên hiệp Hội Việt Nam cùng với các hội thành viên và các tổ chức KH&CN trực thuộc đã tích cực, chủ động thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế, trong đó tập trung vào các nội dung về chia sẻ kinh nghiệm hoạt động với các hội, các tổ chức quốc tế; chia sẻ thông tin KH & CN; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hội; liên kết thực hiện các đề tài, dự án phát triển. Hoạt động hợp tác quốc tế trở thành lực lượng quan trọng trong chiến lược ngoại giao nhân dân của Đảng và Nhà nước. Qua đó, các tổ chức trong toàn hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam có dịp giới thiệu hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam, đồng thời góp phần giải quyết nhiều vấn đề trong khi vực và trên thế giới.

4. Giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên, hỗ trợ và cung ứng tốt dịch vụ cho các thành viên

Liên hiệp Hội Việt Nam đã thường xuyên tư vấn, tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chính sách phù hợp nhằm phát huy năng lực sáng tạo và sự cống hiến của đội ngũ trí thức phục vụ phát triển đất nước. Tập hợp ý kiến, nguyện của các tổ chức thành viên kiến nghị với cơ quan chức năng trong việc xây dựng chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của hội thành viên, hội viên.

Liên hiệp Hội Việt Nam là một trong 3 đơn vị được Thủ tướng Chính phủ giao “Thí điểm tổ chức diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức khi tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội” (Quyết định số 501/QĐ-TTg ngày 15/4/2015). Trong 4 năm qua, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ động và tích cực tổ chức được 24 diễn đàn có tính thời sự cao. Diễn đàn vừa là kênh thông tin, vừa là nơi để trí thức được thể hiện tâm tư, nguyện vọng, bày tỏ ý kiến đối với các vấn đề liên quan tới sự phát triển đất nước cũng như môi trường để trí thức phát huy trí tuệ tham mưu, tư vấn, đề xuất giải pháp với các cơ quan Đảng và Nhà nước đối với những vấn đề lớn nảy sinh trong xã hội.

Thông qua hoạt động tôn vinh trí thức KH&CN với nhiều hình thức khác nhau, Liên hiệp Hội Việt Nam đã kịp thời động viên, khuyến khích trí thức KH&CN tích cực đóng góp công sức và trí tuệ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Liên hiệp Hội Việt Nam đã thường xuyên có các hoạt động hỗ trợ hội viên, hội thành viên thông qua chương trình đào tạo nâng cao năng lực; gắn việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ trí thức với việc bảo đảm quyền hành nghề hợp pháp của hội viên; tích cực bảo vệ hội viên khi quyền lợi của hội viên bị vi phạm.

Cùng với đó, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng tạo điều kiện cho các hội viên công bố kết quả các công trình nghiên cứu thông qua nhiều hình thức khác nhau cũng như đưa vào áp dụng trong thực tiễn; Xây dựng hệ thống các cơ sở dữ liệu và tổ chức việc cung cấp thông tin hỗ trợ cho các hội thành viên, hội viên trong việc xây dựng các chương trình, dự án cũng như thực hiện công tác tư vấn phản biện và giám định xã hội; Tổ chức một số loại hình dịch vụ phù hợp để cung cấp cho hội viên, hội thành viên khi có yêu cầu.

III. Giải pháp phát huy tiềm năng, thế mạnh của Liên hiệp Hội Việt Nam nhằm đóng góp có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong những năm vừa qua, cũng cần nhận thấy những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đã được xác định.

Nhìn chung, Liên hiệp Hội Việt Nam chưa có những đóng góp nổi bật để giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, chưa làm tốt công tác vận động trí thức, công tác chính trị - tư tưởng, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của các hội viên. Hệ thống tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam tuy lớn nhưng chưa thực sự vững mạnh, đã bộc lộ nhiều bất cập trong quá trình vận hành Tổ chức bộ máy trong hệ thống bộc lộ nhiều điểm bất cập: việc kết nạp tổ chức thành viên ở các Liên hiệp Hội địa phương còn tuỳ tiện, thiếu thống nhất; mối quan hệ giữa Liên hiệp hội Trung ương và các hội thành viên còn thiếu chặt chẽ; tính hệ thống của tổ chức chính trị - xã hội không rõ nét mà chỉ dừng lại ở mức độ phối hợp hoạt động, thiếu tính chất chỉ đạo, gắn kết chặt chẽ; công tác quản lý báo chí, xuất bản còn lỏng lẻo. Liên hiệp Hội Việt Nam chưa thực sự trở thành một tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh.

Liên hiệp Hội Việt Nam chưa thực sự quan tâm nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống trong tình hình mới ở nước ta, vì vậy thiếu các luận cứ khoa học và cơ sở lý luận về tổ chức và phát triển hội. Công tác lãnh đạo và điều hành chưa theo kịp xu thế phát triển của đất nước, chậm đổi mới trong thực tiễn; kết quả hoạt động còn phụ thuộc nhiều vào phẩm chất, năng lực và kinh nghiệm của những người đứng đầu. Nội dung và phương thức hoạt động hội còn lúng túng, mang dáng dấp của cơ quan hành chính nhà nước. Liên hiệp Hội Việt Nam chưa tạo ra sự liên kết hữu hiệu trong hệ thống (các mối liên kết dọc và liên kết ngang) để gắn kết hoạt động giữa các hội thành viên. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu lại vừa yếu, năng lực công tác hội còn hạn chế.

Cơ sở vật chất của Liên hiệp Hội từ trung ương tới địa phương còn nghèo, không đáp ứng được yêu cầu hoạt động. Tuy hằng năm Nhà nước có hỗ trợ kinh phí, nhưng quá ít, nguồn tài chính còn rất eo hẹp, việc tự tạo thêm kinh phí gặp nhiều khó khăn do vướng mắc về cơ chế.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong đội ngũ trí thức, nhìn chung, chưa được chú trọng đúng mức. Công tác đảng mới chỉ dừng ở mức độ tập hợp đảng viên và giữ vững sinh hoạt đảng, chưa thể hiện được vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, nhất là ở các tổ chức thành viên. Hoạt động của Đảng đoàn còn lúng túng vì thiếu quy chế qui định chung. Công tác vận động trí thức còn yếu, chưa làm tốt công tác hội viên, mới chỉ tập hợp được khoảng 30% trí thức trong cả nước; chưa chú ý đầy đủ tới lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của tổ chức thành viên và hội viên, vì vậy nhiều trí thức trẻ, trí thức trong các doanh nghiệp và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài còn ít quan tâm tới hoạt động hội.

Vai trò của Liên hiệp hội Việt Nam trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa thực sự nổi bật. Hiệu quả phối hợp hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam với các cơ quan nhà nước trong việc khai thác tiềm năng, sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ chưa cao.

Hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp còn chưa tương xứng với tiềm năng: Cơ chế thực hiện hoạt động TVPB GĐXH cho các tổ chức hội còn nhiều bất cập, vì vậy Liên hiệp hội Việt Nam chưa chủ động và chưa thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này. Việc chuyển giao các dịch vụ công từ các cơ quan nhà nước sang cho các tổ chức hội còn chậm. Liên hiệp hội Việt Nam không có điều kiện thực hiện các đề án lớn, nên ít có những đóng gõp nổi bật trong lĩnh vực KH CN, GD ĐT, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; chưa đóng vai trò tích cực góp phần đưa KH CN vào cuộc sống.

Hoạt động hợp tác quốc tế còn hạn chế: Nhìn chung, hoạt động hợp tác quốc tế của Liên hiệp Hội Việt Nam còn ít. Liên hiệp Hội Việt Nam chưa khai thác có hiệu quả mối quan hệ với các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vức KH CN; thiếu kinh phí để mở rộng mối quan hệ với các hội KHKT trên thế giới; chưa vận động được nhiều nguồn lực từ các tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ nhằm bổ sung các cơ hội để thực hiện các dự án đầu tư phát triển do Liên hiệp hội Việt Nam chủ trì; chưa tạo được hình thức hợp tác nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức Việt kiều, nhất là trí thức đang làm việc tại các nước phát triển.

Nguyên nhân của những mặt hạn chế nêu trên bắt nguồn từ việc Liên hiệp Hội Việt Nam chậm đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động; tiềm năng của Liên hiệp Hội Việt Nam rất lớn, nhưng chưa phát huy được sức sáng tạo của đội ngũ trí thức KH CN. Mặt khác, nhận thức của các ngành, các cấp về vị trí, vai trò, tính chất của Liên hiệp Hội Việt Nam còn khác nhau; có nơi nhận thức không đúng với tinh thần chỉ thị, nghị quyết của Đảng, ở nhiều địa phương đến nay vẫn chỉ coi Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật như là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm cho vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật bị hạ thấp. Nhiều cơ chế, chính sách chưa được ban hành kịp thời nhằm tạo điều kiện cần thiết cho Liên hiệp Hội Việt Nam hoạt động.

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu, khách quan, sẽ tiếp tục lôi cuốn sự tham gia ngày càng sâu rộng của tất cả các nước trên thế giới và bao trùm nhiều lĩnh vực. Bên cạnh việc thúc đẩy hợp tác phát triển, sẽ tăng thêm sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi các nước phải đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động, đặt ra vị trí mới của KH &CN, GD &ĐT.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục con đường đổi mới toàn diện nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, đội ngũ trí thức ngày càng đóng vai trò là nguồn lực quan trọng quyết định phần lớn đến sự thành công của quá trình hội nhập. Điều đó đã nhiều lần được Đảng và Nhà nước khẳng định trong các văn bản khác nhau. “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo, truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển” [1]. Với vị trí, vai trò ngày càng tăng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ trí thức Việt Nam đang có nhiều cơ hội thuận lợi để sử dụng và phát triển tài năng, đóng góp nhiều hơn cho đất nước.

Với chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao phó, với vai trò là một trong các tổ chức đầu mối lớn tập hợp các tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Việt Nam, Liên hiệp hội Việt Nam hoàn toàn có cơ hội phát triển mạnh hơn nữa cả về tổ chức, về hoạt động cũng như phạm vi ảnh hưởng trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào thế giới.

Liên hiệp Hội Việt Nam phải trở thành một tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, tập hợp, đoàn kết rộng rãi và động viên đội ngũ trí thức KH CN người Việt Nam ở trong và ngoài nước góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện quan điểm đó, Liên hiệp Hội Việt Nam cần:

- Hoàn thiện hệ thống tổ chức, củng cố, kiện toàn và phát triển tổ chức từ trung ương tới địa phương; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm huy động tiềm lực to lớn của đội ngũ trí thức KH&CN tích cực, chủ động tham gia vào sự nghiệp phát triển đất nước. Cần xây dựng mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của hội phù hợp với tình hình mới. Chủ động kiến nghị, tích cực tham gia xây dựng các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam trong giai đoạn mới: Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chỉ thị của Ban Bí thư,...

- Đa dạng hoá các loại hình nhằm tập hợp đông đảo trí thức trong đó có cả trí thức hoạt động ngoài Nhà nước, trí thức trong doanh nghiệp, trí thức trẻ; tạo môi trường thuận lợi nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ của trí thức khoa học công nghệ. Đẩy mạnh hoạt động tôn vinh trí thức KH CN thông qua nhiều hình thức khác nhau.

- Quan tâm tới quyền lợi vật chất và tinh thần của trí thức KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các hội thành viên, của hội viên đặc biệt là trí thức
trẻ tham gia hoạt động hội.

- Tạo ra các sân chơi chung cho các tổ chức thành viên của mình, có khả năng cung cấp tốt các dịch vụ cho các tổ chức thành viên. Tổ chức các diễn đàn thích hợp tạo điều kiện cho trí thức được thể hiện tâm tư, nguyện vọng, bày tỏ ý kiến đối với các vấn đề liên quan tới sự phát triển đất nước;

- Hoàn thiện môi trường và khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên phát triển và hoạt động trong đó bao gồm cả việc chuyển các dịch vụ công sang khu vực ngoài nhà nước.

- Việt Nam đã mở cửa và tham gia hội nhập quốc tế toàn diện về kinh tế. Đây là cơ hội giao lưu, hợp tác, tiếp nhận các hỗ trợ quốc tế nhằm thu hút các nguồn lực phục vụ công cuộc phát triển kinh tế-xã hội. Liên hiệp Hội Việt Nam cần có chiến lược dài hạn cho việc thu hút các nguồn lực này.

- Quan tâm hơn nữa tới việc thu hút lực lượng trí thức người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tổ chức và triển khai nhiều hình thức hoạt động dưới dạng câu lạc bộ, diễn đàn, toạ đàm, hội nghị, hội thảo khoa học hoặc các đề tài, dự án triển khai thực hiện trong nước, tạo điều kiện cho các chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp công sức và trí tuệ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Nâng cao năng lực chuyên môn và tính chuyên nghiệp cho các hội thành viên, cho đội ngũ chuyên gia trong hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội. Chủ động thực hiện vận động chính sách nhằm mang lại sự thay đổi có lợi cho việc phát triển đất nước, cho sự phát triển KH CN cũng như quyền lợi của trí thức.

- Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Liên hiệp hội Việt Nam trong xã hội.

  • ThS. Nguyễn Sinh Thành
    Ban Tổ chức và Chính sách hội, Liên hiệp các Hội hoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Chú thích:

[1]  Nghị quyết số 27-NQ/TƯ, ngày 6 - 8 - 2008, Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.