Tranh luận nóng

Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia: GDP lạc quan quá!

Thứ Năm, 14/01/2021 15:07

(Khoa học) - Theo TS Ngô Đức Lâm, tốc độ tăng trưởng GDP được sử dụng trong dự báo của Quy hoạch hiện chưa tính tới tác động của Covid 19.

Liên minh Năng lượng Bền vững Việt Nam vừa có thư kiến nghị gửi lãnh đạo Bộ Công thương, Vụ Dầu khí và Than góp ý cho dự thảo Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Trong thư, Liên minh Năng lượng Bền vững Việt Nam đưa ra 8 kiến nghị góp ý, mong những ý kiến này sẽ được Bộ Công thương nghiêm túc xem xét và tiếp thu trong bản Quy hoạch cuối cùng.

Là thành viên của Liên minh Năng lượng Bền vững Việt Nam, tích cực đóng góp ý kiến cho quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, chuyên gia năng lượng độc lập - TS Ngô Đức Lâm cho biết, một trong những góp ý của Liên minh có liên quan  đến tốc độ tăng trưởng GDP.

Trong dự thảo quy hoạch, Bộ Công thương đưa ra phương án phát triển tổng thể năng lượng với 3 kịch bản tăng trưởng GDP: trung bình, thấp và cao. Cuối cùng đơn vị soạn thảo đã chọn phương án trung bình - tốc độ tăng trưởng GDP dự báo đạt bình quân 6,62%/năm trong giai đoạn 2021-2025; đạt bình quân 6,21%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Tính chung cả giai đoạn 2021-2030 đạt bình quân 6,42%/năm. Giai đoạn đến năm 2050, tốc độ tăng trưởng giảm xuống 5,48%/năm giai đoạn 2031-2040 và 5,0%/năm giai đoạn 2041-2050.

Theo TS Ngô Đức Lâm, trong kịch bản này, đơn vị soạn thảo chưa tính tới tác động của đại dịch Covid-19. Ông đề nghị cần phải rút kinh nghiệm từ Tổng sơ đồ VII khi chọn GDP quá cao (7-9%/năm), mà một quy hoạch kéo dài chừng 10 năm, mới thực hiện có 3 năm đã "phá sản" do tăng trưởng GDP chỉ đạt hơn 6%/năm. Điều này dẫn đến không cần tới 20.000 MW điện nhưng vẫn cứ xây dựng nhà máy, gây tốn kém không cần thiết và ảnh hưởng tới tất cả các ngành, cuối cùng phải điều chỉnh Tổng sơ đồ VII.

Cũng liên quan đến Tổng sơ đồ VII, ở thời điểm xây dựng, đơn vị soạn thảo đã không dựa vào xu thế thế giới để phát triển năng lượng. Xu thế thế giới là phát triển năng lượng tái tạo, giảm bớt nhiệt điện than để bảo vệ môi trường, giảm thiểu biến đổi khí hậu. Thế nhưng Việt Nam lại làm quy hoạch ngược, đó là tỷ lệ nhiệt điện than trong cơ cấu nguồn điện được đẩy lên cao nhất chưa từng có.

Cho nên, chỉ từ năm 2016 đến năm 2018, hàng loạt nhà máy nhiệt điện than không xây dựng được nữa vì nguồn vốn xây dựng của Việt Nam chủ yếu là vay vốn nước ngoài, mà nước ngoài có rào cản kỹ thuật, không có vay làm nhiệt điện than.

Đến năm 2018, năng lượng tái tạo phát triển ồ ạt nhưng quy hoạch không có hệ thống đường dây, không truyền tải được.

Quy hoach tong the nang luong quoc gia: GDP lac quan qua!
Lần đầu tiên Việt Nam có bản quy hoạch năng lượng mang tính chất tổng thể và có tính định hướng cho các quy hoạch năng lượng thành phần như than, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo.

Nhắc lại chuyện cũ, vị chuyên gia cho rằng, Bộ Công thương phải rút kinh nghiệm từ Quy hoạch điện VII để tới Quy hoạch điện VIII, phải tính toán tăng trưởng GDP cho chuẩn xác.

"Xác định tốc độ tăng trưởng  GDP như vậy liệu có bảo đảm tốc độ phát triển như thế lâu dài hay không, khi bản quy hoạch thường kéo dài tới 10 năm. Cơ quan soạn thảo đưa ra phương án dự phòng GDP như thế nào nếu còn đại dịch Covid-19 trên thế giới?

Tổng sơ đồ VIII phải tính toán cẩn thận, nên có giải thích cặn kẽ tại sao chọn như thế, nếu không thế thì thế nào? Còn cứ đặt ra một cách cứng nhắc như vậy thì có khả năng không hiện thực", TS Ngô Đức Lâm nhận xét và đề nghị phải có phương án dự phòng để tránh trường hợp sau nay phải bổ sung hay làm lại quy hoạchọa

Vị chuyên gia thừa nhận, đây là quy hoạch năng lượng đầu tiên mang tính chất tổng thể và có tính định hướng cho các quy hoạch năng lượng thành phần như than, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo. Quy hoạch cũng bám sát với tình hình thực tế, bám sát các định hướng, chính sách về năng lượng với các chỉ tiêu định hướng trung và dài hạn của Đảng và Nhà nước.

Chẳng hạn, năng lượng tái tạo theo quy hoạch cũ chỉ chiếm khoảng 10% cơ cấu nguồn điện nhưng lần này đã tăng lên 28%. Nhiệt điện than giảm xuống từ 36% năm 2020 xuống còn 28% năm 2030; chỉ tiêu giảm phát thải CO2 ra môi trường là 15-25% (giai đoạn 2030-2050).

Quy hoạch cũng bám sát vào nguyên tắc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, tuy nhiên trong chỉ tiêu đề ra lại không rõ.

"Các trụ cột không phải dựa vào ý chí con người, mà phải có phương pháp tính toán. Trên thế giới có 15 mô hình, Việt Nam chọn được 4 mô hình và cuối cùng chốt chọn một mô hình tối ưu - đó là mô hình của Viện Năng lượng quốc tế. Viện Năng lượng (Bộ Công thương) đã sử dụng hệ thống chuyên viên làm tốt chuyện này,  họ có kinh nghiệm, được đào tạo ở nước ngoài. Nhưng tại sao vẫn phải góp ý? Vì mô hình tốt khi đưa đầu vào tốt, nếu đưa đầu vào không đúng, đầu  ra của bài giải không hiện thực nữa", TS Ngô Đức Lâm nói.

Minh chứng điều này, vị chuyên gia cho biết, Quy hoạch lần này vẫn dựa theo tư duy cổ điển với hệ thống năng lượng truyền thống, phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Theo ông, phải xác định lại rằng Việt Nam không thể phát triển khai thác nguồn than tại chỗ được nữa.

"Tối đa của Việt Nam chỉ 300 triệu tấn, 10-20 năm nữa cùng lắm cũng chỉ được 30-40 triệu tấn. Chính vì vậy phải đi nhập than và dự báo từ năm 2030 trở đi Việt Nam cứ phải nhập gần 100 triệu tấn than/năm. Vậy Việt Nam có nên nhập than hay không trong khi nhiên liệu tại chỗ của Việt Nam là có? Vấn đề là khi xây dựng quy hoạch kỳ này, cơ quan soạn thảo có thiếu sót là không tính đến nhiên liệu tại chỗ một cách đầy đủ", TS Lâm nhận xét

Ông dẫn chứng, cơ quan soạn thảo nhận định Việt Nam thiếu khí dẫn tới phải nhập than, nhưng năm 2020, Việt Nam phát hiện hai mỏ khí mới là Kèn Bầu và Khánh Hòa mà chúng chưa được đưa vào xem xét trong bản dự thảo quy hoạch. Do đó, về nguồn tiềm năng khí nội địa, cần bổ sung tiềm năng của hai mỏ nêu trên vào nguồn cung năng lượng sơ cấp, chứ không phải nhận định vì thiếu khí mà phải nhập than.

Tương tự, theo đánh giá của quốc tế, tiềm năng kỹ thuật của năng lượng tái tạo trong nước được xác định rất lớn, có thể mang lại lợi ích đa chiều về môi trường, kinh tế, xã hội, việc làm nhưng tỷ lệ sử dụng trong quy hoạch còn rất nhỏ. Năng lượng tái tạo ngoài phát điện nên được thúc đẩy ứng dụng vào các ngành khác như công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, dân dụng. Riêng đối với năng lượng khí sinh học, cần xác định mục tiêu phát triển cụ thể cho từng giai đoạn để khai thác nguồn tiềm năng này.

"Tóm lại, nhiên liệu Việt Nam có tại chỗ, có khả năng khai thác thì quy hoạch không bàn nhiều mà lại tính nhập than, tư duy đó phải xem lại", TS Lâm nhấn mạnh.

Thành Luân