Tranh luận nóng

Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị

Thứ Sáu, 02/06/2017 13:45

(Liên hiệp hội) - Bài viết của GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân - Nguyên Chủ nhiệm Chương trình cấp Nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL về tình hình sạt lở ở khu vực này.

6. Thêm vào đó là tình trạng khai thác cuội, sỏi và cát sông Mekong tại địa bàn.

Hình 6 cung cấp số liệu khai thác năm 2011, 2012 của Lào, Thái Lan, Campucia và Việt Nam, trích từ một công trình nghiên cứu nước ngoài (3). 
 
Hình 6. Số liệu khai thác cuội, sỏi, và cát sông Mekong năm 2011, 2012

Một công trình khác (4) giải đoán ảnh vệ tinh độ phân giải cao, đánh giá tổng lượng cát mất đi trên hai đoạn sông Tiền và sông Hậu, thời đoạn (1998 – 2008) như hình 7.

 
Hình 7. Lượng trầm tích đáy sông mất đi dọc hai đường thủy trực sông Tiền và sông Hậu

Tài liệu đã dẫn trên đây còn cung cấp tình hình bồi lở đường bờ biển đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 2003 đến 2011/2012. (Hình 8).

 
 
Hình 8. Bồi và lở dọc 3 đoạn đường bờ biển ĐBSCL (dưới); chiều sâu bồi và lở (m/năm) và diện tích bồi, lở (km2/năm) dọc 3 đoạn đường bờ biển ĐBSCL từ năm 2003 đến 2011/2012

7. Làm gì để hạn chế sạt lở? Xin đề xuất một số công việc cần được triển khai càng sớm càng tốt.

(1) Trước hết, Nhà nước và người dân cần nhận thức rõ các thách thức mà đồng bằng đang đối diện và hành động tương ứng vì sự phát triển bền vững của đồng bằng. Cụm từ “Người dân” bao gồm bà con nông ngư dân, các chủ nông hộ, các doanh nghiệp, các viện, trường và các nhà khoa học.

(2) Hiểu rõ các quy luật của dòng chảy sông trong một châu thổ tương đối phẳng, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều, trong bối cảnh các thách thức; tuân thủ các quy luật này trong các quy hoạch, đặc biệt quy hoạch thủy lợi và đô thị. Hạn chế tối đa tác động đến đường bờ biển.

(3) Làm tốt công tác quản lý nhà nước: (a) trong quan trắc, theo dõi các yếu tố thủy văn, hải văn, trầm tích, nước biển dâng; (b) trong quản lý khai thác tài nguyên (đất, nước, cát sông và nước ngầm), và (c) trong dự báo các khu vực, các điểm có khả năng xảy ra sạt lở.

(4) Xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và chuyên đề, được kết nối với nhau. Phát huy các khả năng kết nối giữa internet đám mây và internet kết nối vạn vật để xây dựng quy chế sử dụng mở cho các viện, trường, các nhà khoa học khai thác các cơ sở dữ liệu này.

(5) Tập hợp các chuyên gia, đầu tư để sớm làm chủ một số mô hình với số liệu địa hình luôn được cập nhật để chủ động trong công tác mô phỏng, áp dụng cho những vùng cần theo dõi sạt lở.

(6) Khai thác ảnh vệ tinh, đặc biệt ảnh vệ tinh VNREDSAT 1 của Việt Nam để theo dõi sạt lở.

(7) Dòng chảy tuân thủ quy luật tự nhiên, không theo ranh giới hành chính. Cần sớm thể chế hóa việc liên kết vùng để tối ưu hóa việc phòng chống sạt lở.

(8) Có dự án để đẩy mạnh công nghiệp vật liệu xây dựng nhẹ cho nền đất yếu, bền trong môi trường ngập, mặn phục vụ các công trình thủy lợi, giao thông và dân dụng.

(9) Kiên trì xây dựng một cơ chế sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực. Cơ chế này cần được quy định bằng một điều ước quốc tế. (tham khảo Công ước Liên hiệp quốc về dòng chảy các sông Vienne 1997, Công ước về sông Rhin của Cộng đồng châu Âu, cải tiến Hiệp định MRC 1995).

Trước mắt, có quy định về việc chia sẻ các số liệu thủy văn, cơ chế vận hành của đập thủy điện giữa các nước trong lưu vực. Phải là một yêu cầu mang tính bắt buộc để quản lý tốt nguồn nước sông Mekong và các rủi ro từ biến đổi khí hậu trong lưu vực.

                         ..........................................................................

Chú thích:
(1) MRC, Atlas of deep pools in the Lower Mekong River and some of its tributaries, MRC Technical Paper  N.31, August 2013.
(2) C.Thorne, G.Annandale, J.Jensen, Review of Sediment Transport, Morphology, and Nutrient Balance, Part of The MRCS Xayaburi Prior Consultation Project Review Report, March 2011.
(3) Bravard J.P., Goichot M., Gaillot S. Geography of Sand, and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10 – 12 2013.
(4) E.J. Anthony et all, Linking rapid erosion of the Mekong river delta to human activities, Scientific Report | 5:14745 | DOI: 10.1038/srep14745,  8 October 2015.

  • GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân -Nguyên Chủ nhiệm Chương trình cấp Nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL (1983 – 1990); Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI.