Tranh luận nóng

Đề xuất cho doanh nghiệp vay tiền trả lương: Vay ai?

Thứ Bảy, 28/03/2020 07:30

(Doanh nghiệp) - Cho rằng đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH là phi thị trường, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính) bày tỏ nhiều lo ngại về đề xuất này.

Chưa có tiền lệ, phi thị trường

PV: - Trong gói đề xuất 6 điểm được Bộ LĐ-TB&XH gửi đến Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động đối phó với ảnh hưởng bất lợi từ dịch Covid-19, Bộ đề nghị Nhà nước cho doanh nghiệp vay tiền để trả lương, bảo hiểm, chi trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp người lao động thôi việc và mất việc vì dịch Covid-19. Với sự hỗ trợ này, Nhà nước không tính lãi và khi doanh nghiệp ổn định trở lại thì có trách nhiệm trả lại khoản vay.

Ông bình luận thế nào về đề xuất này của Bộ LĐ-TB&XH? Trong trường hợp Chính phủ chấp thuận cho doanh nghiệp vay tiền để trả lương người lao động, theo ông, nguồn tiền sẽ lấy từ đâu và như vậy có khả thi không?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: - Đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH là chưa có tiền lệ và không có tính thị trường. Nếu đã là cơ chế thị trường thì doanh nghiệp tồn tại hay phá sản là câu chuyện của thị trường và là chuyện hết sức bình thường. Trong trường hợp cho doanh nghiệp vay như đề nghị của Bộ, nếu doanh nghiệp phá sản thì Nhà nước biết đòi ai?

Bên cạnh đó, tất cả các khoản vay không có lãi suất hoặc được chính quyền bảo lãnh thường đi kèm với hiệu quả sử dụng thấp, rủi ro cao. Thực tế cho thấy, khi đã có được những khoản vay không lãi suất thì người vay không cần phải tính toán hay suy nghĩ làm gì, thậm chí họ còn cho rằng khoản vay này Nhà nước có thể cho không mình nên cứ dùng thoải mái, không cần nghĩ đến chuyện hoàn trả. Có chính phủ nào sẵn tiền như vậy không, kể cả đối với những nước giàu như Mỹ?

Nên nhớ, đó cũng là lý do khiến thời gian qua Việt Nam nỗ lực để giảm tối đa bảo lãnh chính phủ cho doanh nghiệp đi vay, kể cả vay trong nước lẫn nước ngoài, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ quản lý cũng như hiệu quả sử dụng vốn.

De xuat cho doanh nghiep vay tien tra luong: Vay ai?
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh

 Cũng cần phân biệt đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH với các đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp được đề cập nhiều trong thời gian qua. Theo đó, để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn do tác động của dịch Covid-19, ngành ngân hàng đang tích cực triển khai các gói tín dụng với tổng giá trị dự kiến lên đến 285.000 tỷ đồng, trong đó có một gói hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp với các cam kết giảm lãi suất từ 0,5-1,5%, giãn thời gian trả nợ, không tính lãi suất phạt đối với các khoản vay chưa trả, giữ nguyên nhóm nợ hoặc xem xét cho vay thêm...

Trong điều kiện bình thường, về nguyên tắc quản lý, ngân hàng thương mại sẽ không được làm việc đó. Tuy nhiên, trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, NHNN cho phép ngân hàng thương mại làm việc đó và đó là sự chia sẻ, đồng cam cộng khổ giữa các đối tác trong sản xuất, kinh doanh.

Ngoài gói hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp trên còn có một gói hỗ trợ tài khóa như hoãn, giãn về tài chính.

Hiện nay chúng tôi cũng đang đề nghị Bộ Tài chính và Chính phủ trình Quốc hội xem xét miễn, giảm thuế đối với doanh nghiệp, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ gia đình.

Với doanh nghiệp lớn không có doanh thu thì không phải nộp thuế VAT, không có lợi nhuận thì không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ gia đình thì phải nộp thuế khoán và cứ đến kỳ là phải nộp một khoản thuế nhất định, không cần biết doanh thu của doanh nghiệp là bao nhiêu, họ có buôn bán, sản xuất được gì hay không. Như vậy, điều bất công đã xảy ra, và vì thế phải tính toán mức độ thiệt hại của các doanh nghiệp, nếu thiệt hại ít thì giảm thuế, thiệt hại nhiều thì miễn thuế.

Ngoài ra, cũng cần miễn, giảm thuế đối với những mặt hàng mang tính phục vụ cho sản xuất, như vật tư, nguyên liệu.

Đó là những điểm cần xem xét hỗ trợ doanh nghiệp, không phải sử dụng các gói kích thích kinh tế như giai đoạn 2008-2009 bởi tình hình hiện nay chưa đến mức khó khăn như vậy, chưa kể làm như vậy nguy cơ lạm phát cao là rất rõ.

Tóm lại, việc ngành ngân hàng đưa ra các gói hỗ trợ trên vừa là sức ép, đồng thời cũng rất cần thiết cho thị trường. Nó có thể tác động đến lạm phát, nhưng NHNN đương nhiên phải tính toán các biện pháp để có thể thu hồi vốn và giảm lạm phát cho nền kinh tế. Việc triển khai các gói tín dụng nói trên cũng phải đi kèm với hướng dẫn bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ kịp thời, minh bạch và đúng địa chỉ.

Còn với đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH, một lần nữa tôi tin rằng không thể thực hiện được. Trước hết là vì nó chưa cần thiết, tiếp đến là không ngân sách nào chịu nổi và cũng không có nguồn nào có thể sử dụng mà không gây thiệt hại đến ngân sách. Hiện nay ngân sách đang phải chi tiêu quá nhiều, đặc biệt là phải lo phòng, chống dịch bệnh Covid-19, nguồn thu lại sụt giảm vì sản xuất, kinh doanh đình đốn.

Mặt khác, nếu có ai nghĩ đến việc dùng quỹ bảo hiểm xã hội hay quỹ hưu trí để cho vay thì tôi có thể nói ngay rằng, chuyện ấy không được phép. Quỹ bảo hiểm xã hội hay quỹ hưu trí để phục vụ cho người đã hết khả năng lao động, gặp khó khăn trong đời sống, nếu lấy ra cho doanh nghiệp vay, lại vay với lãi suất 0% hỏi rằng quỹ đó có còn không?

Các doanh nghiệp sẽ không quan tâm đến chuyện trả nợ tín dụng, khả năng trả nợ rất kém, rủi ro lớn. Nếu mất luôn nguồn quỹ để đảm bảo an sinh xã hội cho những người yếm thế thì rất nguy hiểm. Nó sẽ dễ dàng tạo ra những cú sốc lớn cho nền kinh tế: tăng trưởng chậm lại, công ăn việc làm giảm bớt, khả năng thất nghiệp cao. Cho nên, không thể sử dụng quỹ hưu trí để cho doanh nghiệp vay trả lương cho người lao động như vậy được.

Đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH dễ được lòng các doanh nghiệp và những người làm ăn yếu kém, ỷ lại vào ngân sách nhà nước, cũng như mong chờ có được lượng tiền từ trên trời rơi xuống đầu mình, nhưng tôi nghĩ không nên bàn đến chuyện này, cũng đừng nghĩ đến chuyện dùng ngân sách hay bất kỳ quỹ nào để thực hiện đề xuất ấy.

Không nên bàn thêm

PV: - Dù vậy cũng đã có ý kiến cho rằng nếu tính toán kỹ nhóm doanh nghiệp nào thuộc đối tượng được vay thì có thể cân nhắc đề xuất trên. Đó có thể là các doanh nghiệp đã và đang sản xuất, đã cho ra sản phẩm nhưng không xuất khẩu được, không có nguồn thu để tồn tại và trả lương công nhân; hoặc là các doanh nghiệp không thể hoạt động do dịch bệnh, đồng nghĩa người lao động cũng không làm việc.

Ông chia sẻ như thế nào với ý kiến này? Và trong trường hợp đối tượng hỗ trợ là doanh nghiệp không thể hoạt động do dịch bệnh thì chính sách hỗ trợ nên như thế nào, ai là người đứng ra hỗ trợ?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: - Trước khi tung ra gói hỗ trợ bao giờ cũng phải xem đã cần thiết để hỗ trợ hay chưa, chuyện đó có hợp lý không, sau mới đề cập đến đối tượng. Tiếp đó phải tính toán mức độ thiệt hại của các đối tượng này đến đâu, ở lĩnh vực nào…

Trong mỗi ngành có thể có những đối tượng thiệt hại rất nghiêm trọng và trực tiếp, nhưng cũng có đối tượng thiệt hại không đáng kể; rồi xem xét cho vay ở mức độ nào, miễn giảm ra sao... 

Bây giờ chỉ đề xuất miễn giảm thuế cho doanh nghiệp thôi cũng phải tính thiệt hại đến đâu thì mới hỗ trợ, không phải cứ để các bên tự ngồi vẽ ra với nhau, ai xin giỏi thì được nhiều. Tương tự, cho vay giảm lãi suất phải thẩm định hồ sơ vay, đòi hỏi tài sản đảm bảo của bên vay thế nào... 

Bản thân đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH đã không hợp lý và phi thị trường nên không cần bàn làm gì nữa, càng không cần nói đến đối tượng được vay vì như vậy sẽ dẫn đến xin cho và nhiều hiện tượng tiêu cực khác có thể xảy ra.

De xuat cho doanh nghiep vay tien tra luong: Vay ai?
Chuyên gia cho rằng đề xuất cho doanh nghiệp vay tiền để trả lương cho người lao động là phi thị trường

PV: - Ông tỏ ra hoài nghi về khả năng thu hồi nợ của các doanh nghiệp được Nhà nước cho vay tiền để trả lương cho người lao động. Trong trường hợp xác định được nhóm doanh nghiệp nào có khả năng tồn tại để trả nợ cũng như đảm bảo khoản vay có thể thu hồi được trong tương lai thì sao? Xin ông phân tích rõ.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: - Tôi muốn nhắc lại rằng, thực tế đã chứng minh người được vay mà không bị tính lãi vay thường coi tiền vay như trên trời rơi xuống, vào tay họ thì cứ tiêu thoải mái. Khi hiệu quả sử dụng không có, khả năng trả nợ khó khăn, khả năng mất toàn bộ vốn cũng rất lớn, thì tại sao cứ phải cho vay?

Chúng ta không lấy đâu ra nguồn để bù trì, đáp ứng được, trong khi trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phá sản là chuyện hết sức bình thường và đơn giản. Chưa kể, nếu đồng ý cho vay thì lại phải tính đến chuyện hỗ trợ ai, quy trình thế nào, cho vay có điều kiện hay lại xin cho... rất phức tạp.

Dĩ nhiên vẫn có thể giải quyết những vấn đề đó và nếu cần vẫn phải làm, nhưng phải xem đã đến lúc chưa và dùng biện pháp nào, các biện pháp chúng ta đang làm hiện tại đã giải quyết đến đâu?

Các nhà quản lý kinh tế, người hoạch định chính sách cần đánh giá mức độ thiệt hại của các ngành nghề, lĩnh vực, doanh nghiệp trong từng ngành cụ thể, xem cần hỗ trợ thế nào, từ đó mới thiết kế một chính sách hợp lý. Phải tính đến nguồn tiền ở đâu ra, khả năng kích thích thế nào, phải chọn đúng cái chốt để kích cho nó bật lên và tác động lan tỏa đến các ngành khác, kéo theo toàn bộ nền kinh tế đi lên.

Chọn đúng chốt để kích thích

PV: - Cho tới nay, liên tiếp các bộ, ngành đưa ra đề xuất hỗ trợ cho doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, với việc mạnh bộ nào bộ ấy đưa giải pháp, hướng đến nhóm đối tượng thuộc diện quản lý của bộ, cách thức hỗ trợ như vậy có giải quyết được khó khăn cho doanh nghiệp không hay sẽ tiềm ẩn những nguy cơ chính sách lạc hướng, thưa ông? Theo ông, cần hỗ trợ doanh nghiệp như thế nào cho hiệu quả?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: - Việc đề xuất hỗ trợ các doanh nghiệp là cần thiết, tuy nhiên hỗ trợ như thế nào lại là vấn đề cần quan tâm và bàn thảo. Chúng ta phải hỗ trợ theo đúng các điều kiện của kinh tế thị trường, phù hợp với khả năng, nguồn lực tài chính của đất nước.

Nước Mỹ sẵn sàng chi ra vài chục ngàn tỷ USD để hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân, nhưng Việt Nam có thể chi hàng chục tỷ USD hỗ trợ doanh nghiệp khi cả năm chỉ sản xuất ra 266 tỷ USD không? E rằng khó.

Vì cái chung của nền kinh tế nên phải tìm cách thức hỗ trợ, kích thích nền kinh tế, từ đó tạo ra động lực thay đổi, cải tổ cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Do đó phải chọn lĩnh vực để mà hỗ trợ, kích thích, không phải ai ở ngành nghề nào cũng đòi hỗ trợ ngành nghề đó được.

Như lĩnh vực bất động sản cũng đề nghị được xem xét hỗ trợ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 với các biện pháp như khoanh nợ, giãn nợ, không chuyển nhóm nợ, giảm lãi suất vay, cơ cấu lại các khoản vay, giãn tiến độ nộp thuế… chuyện ấy rất buồn cười!

Trong đại dịch cả nền kinh tế khó khăn và đó là phép thử đối với tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân. Ai có khả năng thích ứng, nhanh nhạy về mặt tài chính, kinh doanh thì tồn tại. Cũng sẽ có một số doanh nghiệp phá sản, đó là chuyện bình thường và phải chấp nhận.

Chúng ta không có nhiều tiền để vung tay quá trán. Nhà điều hành kinh tế phải nhìn thấy cần hỗ trợ chỗ nào, đối tượng nào để sự hỗ trợ có tác dụng lan tỏa đến các đối tượng khác, tạo sức bật cho cả nền kinh tế. Tránh “ném cát bụi tre”, mỗi ngành một tý cuối cùng chẳng ngành nào khỏe, tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

Hiện nay Việt Nam vẫn còn khoảng 600.000 tỷ đồng vốn đầu tư công của các năm đọng lại và kế hoạch năm nay chưa được giải ngân. Nếu sử dụng số tiền đó đúng, đẩy được vào nền kinh tế thì nó vừa tạo ra được các công trình hạ tầng của nền kinh tế, vừa tạo ra công ăn việc làm, là đòn bẩy thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển.

Vấn đề là đầu tư công cần phải được xem xét cẩn trọng và cụ thể. Tại sao mấy năm gần đây giải ngân vốn đầu tư công thấp, có tiền mà không tiêu được? Đó là vì nhiều địa phương, nhiều ngành vẽ ra các dự án để tìm kiếm chi tiêu công mà các dự án này lại không hiệu quả. Khi Luật Đầu tư công siết chặt, có các quyết định của Bộ Chính trị và các cơ quan có thẩm quyền về việc tăng cường kiểm tra, giám sát, tăng cường xem xét hiệu quả các dự án, lập tức các bộ, ngành, địa phương không muốn đẩy mạnh giải ngân nữa, nên mọi thứ ứ đọng lại.

Do đó, phải xem những dự án nào cần và nên thực hiện đẩy mạnh chi tiêu công, dự án nào nên dừng lại hoặc xem xét bố trí sau. Phải tìm được cái chốt để đẩy mạnh chi tiêu công, tạo ra cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật cho nền kinh tế, khi dịch bệnh qua đi thì nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và đi vào nề nếp.

Còn bây giờ, cứ tính những bài tính loanh quanh, giật gấu vá vai thì còn lâu chúng ta mới có thể thoát được cơn bĩ cực này.

Thành Luân