Tranh luận nóng

Việt Nam trên con đường hồi sinh “biển bạc”

Thứ Bảy, 25/01/2020 08:18

(Thị trường) - Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có đường bờ biển dài trên 3.260 km, cứ 100 km2 đất liền có 1 km chiều dài bờ biển.

Từ rất lâu cụm từ "rừng vàng, biển bạc" được sử dụng để nói đến nguồn tài nguyên phong phú của Việt Nam. Thế nhưng, câu chuyện giờ đã hơi khác…

Câu chuyện thứ nhất: Bao giờ trở lại thời biển bạc, cá đầy khoang?

Nhiều lão ngư thường hồi tưởng lại thời họ đi biển và thấy "rất sung sướng" bởi đó là thời đi biển để làm giàu khi mỗi lần kéo lưới là đầy ắp cá tôm, dù tàu thuyền không có máy móc hiện đại như bây giờ. Còn giờ đây, với nhiều ngư dân, biển không còn là biển bạc, nghề biển ngày một khó khăn, chỉ mong đủ ăn là quý.

Theo ông Võ Thiên Lăng, Phó Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, một trong những lý do khiến nghề cá của Việt Nam không phát triển được chính là do lãng phí tài nguyên, mà nguyên nhân sâu xa của sự lãng phí này là do yếu kém về khoa học công nghệ. Bây giờ, theo Nghị định 67, tàu của ngư dân có công suất lớn, được trang bị máy móc, phương tiện hiện đại hơn xưa... nhưng khâu bảo quản sau thu hoạch suốt mấy chục năm qua vẫn hết sức thô sơ, bằng cách ướp đá lạnh.

"Bởi phương pháp bảo quản phổ biến hiện nay vẫn là đá xay, nên nếu ngư dân ra khơi khoảng 1 tháng, phần lớn số cá thu hoạch được sẽ bị hỏng, không bán được, có chăng chỉ để làm nước mắm. Vậy nên, cứ giữ phương pháp bảo quản này thì 100% ngư dân khai thác xa bờ thua, không có tiền trả nợ ngân hàng, phần lớn bị phá sản", ông Võ Thiên Lăng nói.

Về nguồn lợi thủy sản, Phó Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam thừa nhận một thực trạng buồn, đó là biển ngày càng cạn kiệt. Đánh bắt ven bờ theo lối tận diệt làm nguồn lợi thủy sản ven bờ suy giảm, ngư dân phải ra khơi xa, tìm kiếm những ngư trường mới, nhưng những chuyến biển với chi phí lên cả trăm triệu đồng chỉ đem về lợi nhuận bấp bênh, may rủi. Thực trạng này, theo ông Lăng, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

"Phương pháp đánh bắt quyết định tới sự tồn tại của tài nguyên. Việc ngư dân sử dụng những phương pháp đánh bắt theo kiểu tận diệt, điển hình là đánh bắt bằng ánh sáng công suất lớn khiến cá lớn, cá nhỏ bị tiêu diệt hết. Tàu thuyền ngày càng lớn, đánh bắt chủ yếu bằng ánh sáng, dùng giã cào mà cào vào bụng biển, trong khi lực lượng chấp pháp hoạt động kém hiệu quả... Tất cả những yếu tố đó khiến cho nguồn lợi thủy sản từ ven bờ đến xa bờ đều trở nên cạn kiệt", ông Võ Thiên Lăng chỉ thẳng.

Những vấn đề này, theo Phó Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, cần phải được nhìn nhận nghiêm túc, thẳng thắn, để từ đó đưa ra giải pháp phù hợp.

Việc cần làm đầu tiên đó là phải đánh giá lại nguồn lợi thủy sản của Việt Nam và đây là nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu Hải sản (Bộ NN-PTNT), từ đó cơ cấu lại nghề đánh bắt, phát triển bền vững để ngư dân được lợi.

Thứ hai, công nghệ bảo quản sau thu hoạch của ngư dân cho đến nay vẫn là vấn đề chưa được giải quyết. Bởi công nghệ bảo quản yếu kém nên chất lượng sản phẩm không đảm bảo, dẫn đến đầu ra khó khăn, tài nguyên bị lãng phí.

"Bộ NN-PTNT, trực tiếp là Tổng cục Thủy sản phải đặt những vấn đề này lên bàn để bàn bạc, xác định những yếu kém của chính mình. Không thể kéo dài tình trạng khai thác thủy sản thiếu bền vững, ngư dân làm ăn thua lỗ, thẻ vàng do Liên minh châu Âu (EU) áp đặt đối với thủy sản Việt Nam chưa được gỡ bỏ mà báo cáo viết trong phòng lạnh vẫn cứ khen tốt đẹp, chạy theo thành tích xuất khẩu tỷ USD", ông Võ Thiên Lăng nhấn mạnh.

Cũng theo Phó Chủ tịch Hội Nghề cá, Luật Thủy sản 2017 có đề cập khái niệm khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên biển, nhưng lại chưa đề cập đến vấn đề lãng phí tài nguyên. Việc ngư dân có thay đổi được phương pháp đánh bắt hay không tùy thuộc vào quy định của Nhà nước.

"Ví dụ, Nhà nước cấm khai thác giã cào, ai vi phạm sẽ bị phạt nặng. Nếu nói mà không xử lý thì bất kỳ việc gì đem lại lợi nhuận nhanh, dù có sai thì người ta vẫn cứ làm", ông Võ Thiên Lăng nói.

Viet Nam tren con duong hoi sinh “bien bac”
Giàn khoan mỏ Cá Tầm- một trong những mỏ dầu giúp Vietsovpetro bổ sung được sản lượng khai thác

Câu chuyện thứ hai: Để khai thác dầu khí không 'ăn' vào tương lai

Biển Đông được xem là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định được nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí. Theo đánh giá của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ thì lượng dự trữ dầu được kiểm chứng tại Biển Đông là 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng mỗi ngày.

Thế nhưng, từ năm 2018, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã cảnh báo khai thác dầu khí đang 'ăn' vào tương lai khi trữ lượng tìm kiếm thăm dò quá thấp so với sản lượng dầu khí khai thác hàng năm.

Số liệu năm 2017 đã cho thấy điều này: sản lượng khai thác quy dầu của PVN lên tới 25 triệu tấn, nhưng tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng chỉ là 4 triệu tấn.

Chia sẻ về thực trạng này, PGS.TS Hoàng Văn Quý, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học - Thiết kế dầu khí biển cho rằng, bài toán mất cân đối giữa sản lượng khai thác và tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng dầu khí là bài toán muôn thuở của ngành dầu khí và càng về sau bài toán ấy càng trở nên phức tạp hơn.

Nguyên nhân của tình trạng này, theo ông Quý, do khách quan nhiều hơn. Đó là các mỏ dầu khai thác lâu năm đương nhiên sẽ sụt giảm và đi đến cạn kiệt. Như mỏ Bạch Hổ, đã hơn 30 năm đã trôi qua kể từ khi dòng dầu thương mại đầu tiên được lấy lên từ mỏ này. Nguồn "vàng đen" này đã góp phần rất quan trọng giúp Việt Nam xoay xở được tình thế nghèo đói, thu về ngoại tệ mạnh, khắc phục lạm phát phi mã, ổn định và tăng trưởng kinh tế. Thế nhưng viễn cảnh mỏ Bạch Hổ cạn kiệt dầu không còn xa.

Trong khi đó, nếu 10-20 năm trước PVN liên tục phát hiện các mỏ dầu mới, thì giờ đây, xác suất tìm ra các mỏ mới không được nhiều như xưa, nếu có tìm ra thì đa phần cũng là mỏ nhỏ, sản lượng dầu không lớn như Bạch Hổ.

Tuy nhiên, không thể không nhắc đến yếu tố chủ quan. Theo quy luật tự nhiên, lẽ ra càng ngày càng phải đầu tư nhiều hơn vào công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí, song thực tế việc đầu tư này lại ngày càng khó khăn hơn, một phần do thiếu vốn, một phần thời gian qua xảy ra qua một số vụ việc  tiêu cực trong ngành dầu khí khiến các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư quản lý chặt chẽ hơn. Việc quản lý chặt này bên cạnh những mặt tích cực, còn có phần khiến công tác tìm kiếm thăm dò, mở rộng khai thác dầu khí trở nên khó khăn hơn, khi để đầu tư vào một giếng khoan dầu phải qua quá nhiều thủ tục.

Để giải quyết tình trạng cạn kiệt dầu, theo nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học - Thiết kế dầu khí biển, một mặt Việt Nam vẫn phải nỗ lực đẩy mạnh việc tìm kiếm, khai thác thêm những mỏ mới, mặt khác, phải hướng đến việc xuất khẩu nhân-vật lực dầu khí ra nước ngoài. Đây không phải là hướng phát triển của riêng Việt Nam mà các nước trên thế giới đều làm, tuy nhiên cơ chế để Việt Nam xuất khẩu ngành thăm dò, khai thác dầu khí ra nước ngoài lại còn khó khăn.

"Tôi đã tham gia dự án nghiên cứu chung Việt Nam – Cộng hòa Sudan về mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ – hang hốc ở Sudan. Cùng thời điểm, cả đoàn Việt Nam và Malaysia cùng sang Sudan, nhưng sau 10 năm Malaysia đã có 25.000 thùng/ngày đêm tại Sudan, còn Việt Nam vẫn chưa tìm kiếm được.

Tôi từng trao đổi với lãnh đạo PVN rằng, việc tổ chức đi nghiên cứu, mở rộng dự án ra nước ngoài không ổn và khó thành công khi việc cử người đi vẫn mang tính chất ưu ái, tạo điều kiện cho anh em đi giao lưu. Thường năm nay cử một nhóm đi nước ngoài rồi về báo cáo, sang năm lại một nhóm khác đi, cuối cùng không có ai chịu trách nhiệm.

Phải xác định việc đi ra nước ngoài không phải để hưởng thụ mà là để cống hiến, lao động. Phải mạnh dạn giao cho các chuyên gia thực sự, đeo bám dự án đó và chịu trách nhiệm trước PVN, trước Chính phủ. Ví dụ, PVN có thể cử một chuyên gia đi liền 5 năm cũng không có vấn đề gì, quan trọng là cái lợi người ấy mang về lớn hơn nhiều chi phí bỏ ra", nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học - Thiết kế dầu khí biển phân tích.

Viet Nam tren con duong hoi sinh “bien bac”
Công nhân Vietsovpetro khai thác dầu

Từ những phân tích ở trên, PGS.TS Hoàng Văn Quý cho rằng quan điểm nên khai thác cầm chừng các mỏ dầu hiện tại thay vì tìm mỏ mới, để lại tài nguyên cho tương lai là không khả thi. Bởi đất nước vẫn đang rất cần tiền, việc khai thác cầm chừng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP.

"Phải tổ chức khai thác một cách hợp lý, song song với đó đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhân-vật lực dầu khí ra nước ngoài một cách hiệu quả", vị chuyên gia ngành dầu khí nhấn mạnh.

Câu chuyện thứ ba: Mở 'mỏ vàng' băng cháy

Băng cháy là nguồn năng lượng mới được rất nhiều quốc gia quan tâm vì trữ lượng khổng lồ và khả năng tác động tới biến đổi khí hậu toàn cầu của nó. Khoáng sản năng lượng mới này dự báo lớn gấp 3 lần tổng tài nguyên năng lượng hóa thạch được biết đến trên toàn thế giới.

Theo giới chuyên gia, thách thức lớn nhất hiện nay trong khai thác cũng như thương mại hóa băng cháy là chi phí và công nghệ. Dù được xem là nguồn năng lượng sạch nhưng nếu chiết xuất không cẩn thận có thể sẽ gây rò rỉ khí mê tan và làm trầm trọng thêm biến đổi khí hậu.

Hiện nay đã có hơn 90 nước trên thế giới đang tiến hành các chương trình nghiên cứu điều tra băng cháy ở các mức độ khác nhau.

Biển Việt Nam nằm trong khu vực Biển Đông, được Sở Địa chất Hoa Kỳ (USGS) đánh giá đứng hàng thứ 5 ở châu Á về tiềm năng băng cháy. Dù chưa được trang bị đầy đủ thiết bị, công nghệ và còn thiếu nguồn nhân lực nghiên cứu, điều tra băng cháy, nhưng dựa vào các kết quả điều tra, khảo sát những năm qua về địa chất, cấu trúc - kiến tạo, địa mạo và kết quả tìm kiếm, thăm dò dầu khí cho thấy trên các vùng biển Việt Nam hội tụ nhiều yếu tố để có mặt băng cháy.

Một số đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam bước đầu khẳng định vùng Biển Đông của Việt Nam có tiềm năng lớn về băng cháy, trữ lượng được xếp vào hàng thứ 5 của châu Á, tập trung ở 4 khu vực: Quần đảo Hoàng Sa, bể Phú Khánh, Tư Chính-Vũng Mây và quần đảo Trường Sa.

Để có được kết quả chính xác về tiềm năng một loại năng lượng mới trên vùng biển Việt Nam, ngày 3/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 796 phê duyệt “Chương trình nghiên cứu, điều tra cơ bản về tiềm năng khí hydrate ở các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam”. Theo đó, sau giai đoạn nghiên cứu (2007- 2015) kết thúc giai đoạn tiếp cận, nghiên cứu công nghệ, đến giai đoạn 2015-2020 bắt đầu đánh giá, thăm dò băng cháy trên những vùng biển và thềm lục địa có triển vọng.

Thực hiện chương trình này, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển đã hoàn thành dự án "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam”.

Sau đó, Trung tâm tiếp tục triển khai giai đoạn 2012 - 2020 của Đề án 47 Dự án điều tra cơ bản địa chất khoáng sản biển phủ kín vùng biển Việt Nam độ sâu đến 300m nước nhằm cung cấp thêm các số liệu, cơ sở khoa học thực tế để nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy của Việt Nam.

Từ năm 2014, TS Trịnh Xuân Cường, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã cho biết, vấn đề băng cháy tại Việt Nam từng được nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga có đề xuất hợp tác nghiên cứu. Các nhà khoa học Việt Nam đã phối hợp với Nga nghiên cứu băng cháy dựa trên các tài liệu về dầu khí. Tuy nhiên do kinh phí hạn chế nên công việc nghiên cứu chủ yếu vẫn chỉ mang tính chất tập hợp số liệu dầu khí để đánh giá băng cháy.

Đến tháng 4/2019, cũng TS Trịnh Xuân Cường thông tin, VPI đang hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước triển khai các chương trình nghiên cứu dài hạn về dầu khí phi truyền thống. Cụ thể, VPI đang triển khai nghiên cứu về đặc điểm và triển vọng băng cháy (gas hydrate) khu vực Biển Đông (Dự án 47 và KC09), dầu khí đá phiến (shale oil and gas) các bể trầm tích trước địa Tam trên thềm lục địa Việt Nam, khí than (CBM) ở khu vực miền võng Hà Nội, Thanh Nghệ, Tuy Hoà…

Các nghiên cứu đã đưa ra các kết quả ban đầu cũng như đã đề xuất và tư vấn cho PVN và các bộ/ngành trong việc triển khai các nghiên cứu cũng như định hướng tìm kiếm thăm dò nguồn tài nguyên phi truyền thống này trong tương lai.

Thành Luân