Tranh luận nóng

Xuất khẩu gạo vào Trung Quốc giảm 75%, doanh nghiệp lao đao

Thứ Ba, 09/07/2019 13:12

(Thị trường) - Tỉ trọng xuất – nhập khẩu gạo giữa Việt Nam với Trung Quốc sụt giảm mạnh do yếu tố khách quan và có nhiều yếu tố bất định, mang tính sắp đặt

PGS. TS Dương Văn Chín, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Định Thành (Tập đoàn Lộc Trời) nhận định như vậy. Ông cũng cho rằng, với những diễn biến trên Việt Nam rất khó để chủ động ứng phó.

Xuat khau gao vao Trung Quoc giam 75%, doanh nghiep lao dao
PGS. TS Dương Văn Chín, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Định Thành (Tập đoàn Lộc Trời). Ảnh: Nông nghiệp

Trung Quốc giảm nhập gạo, nông dân thiệt

PV: Thưa ông, báo cáo của Tổng cục Hải quan cho thấy 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gạo Việt Nam vào thị trường Trung Quốc đạt 111,3 triệu đô la, giảm đến 75% so với cùng kỳ. Đây cũng là thị trường có kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh nhất.

Thực tế, từ năm 2017 giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc đồng loạt lao dốc mạnh sau một thời gian dài tăng trưởng bền vững, nhất là mặt hàng gạo và rau quả. Điều này cho thấy kết quả trên không nằm ngoài dự báo khi phía Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo sẽ siết chặt chính sách nhập khẩu nhằm kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã có thông báo điều chỉnh hoạt động nhập khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch từ cuối năm 2018 và bắt buộc áp dụng từ tháng 6/2019.

Cảnh báo là như vậy nhưng tại sao xuất khẩu gạo vẫn bị sốc? Sự lúng túng trong ứng phó như vậy là do đâu? Là do doanh nghiệp thiếu chủ động, khó thay đổi thói quen hay do cơ quan quản lý nhà nước làm chưa tốt vai trò của mình, thưa ông?

PGS.TS Dương Văn Chín: Đúng vậy, sự sụt giảm mạnh sản lượng gạo xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc không nằm ngoài dự đoán trước, tuy nhiên, sụt giảm tới 75% chỉ trong 5 tháng đầu năm 2019 thì đúng là cũng hơi bất ngờ. Diễn biến mới chắc chắn sẽ tác động bất lợi cho ngành hàng lúa gạo trong nước mà người phải gánh chịu hậu quả trực tiếp chính là người nông dân. 

Xét đến nguyên nhân đầu tiên phải thấy những năm gần đây, nhiều nước tiêu dùng, nhập khẩu gạo đã có những sự thay đổi sâu sắc về chính sách đối với mặt hàng lúa gạo, như chính sách thuế hóa mặt hàng gạo, thay đổi phương thức nhập khẩu, mở rộng nguồn cung, đặc biệt là tự sản xuất nâng khả năng tự chủ, tự cung cấp nguồn gạo trong nước.

Trung Quốc không chỉ là nước nhập khẩu gạo lớn nhất mà cũng trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới với nhiều cơ sở nhà máy sản xuất gạo được đặt trực tiếp tại nhiều nước như Campuchia, Lào…. Các động thái và tình hình trên đã làm gia tăng lượng cung gạo cho Trung Quốc, tăng tồn kho tại các nước xuất khẩu và làm thay đổi sâu sắc quan hệ cung - cầu theo hướng thị trường thuộc về người mua.

Riêng trong mối quan hệ thương mại xuất – nhập khẩu gạo giữa Việt Nam với Trung Quốc bị sụt giảm ngoài những tác động mang tính toàn cầu thì còn có những yếu tố bất định, mang tính sắp đặt nhiều hơn là yếu tố thương mại tự nhiên. Rất khó chủ động ứng phó. 

Đầu tiên là việc nới lỏng các quy định nhập khẩu, tăng thu mua theo đường tiểu ngạch với các tiêu chuẩn thấp, dễ dãi trong suốt thời gian dài đã hình thành một thói quen "ăn đong" trong xuất khẩu gạo, chủ yếu xuất khẩu gạo thô, hưởng về phần giá trị gia tăng rất thấp, những thói quen không dễ thay đổi trong ngày một ngày hai dù đã được cảnh báo. 

Đến khi Trung Quốc đột ngột thay đổi chính sách lập tức thị trường xuất khẩu gạo trong nước bị lao đao.

Từ một thị trường bị thả nổi về tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng an toàn thực phẩm bỗng nhiên bị siết lại thì bị sốc cũng đúng. Theo thỏa thuận hai nước, từ tháng 6/2019, nông sản Việt xuất sang Trung Quốc phải bằng đường chính ngạch và tuân thủ các quy định về chất lượng, truy xuất nguồn gốc với hàng loạt những tiêu chuẩn như: phải đảm bảo các quy định như thời gian xông trùng phải đạt 120 giờ; mẫu kiểm tra phải được đưa đến cơ sở của Trung Quốc kiểm nghiệm; bao bì, nhãn mác phải ghi đầy đủ thông tin về xuất xứ hàng hóa theo thông lệ quốc tế và phải được cơ quan kiểm nghiệm của quốc gia này đóng dấu… cùng hàng loạt những quy định về thuế, tiêu chuẩn kỹ thuật với nhà máy, cơ sở sản xuất gạo cũng bị siết lại thì khó càng thêm khó.

Thực tế, Việt Nam cũng có tới hơn 20 doanh nghiệp đạt yêu cầu và hoàn toàn có đủ khả năng cung cấp được loại gạo đáp ứng được tiêu chuẩn, kỹ thuật để xuất khẩu gạo vào Trung Quốc. Tuy nhiên, từ năm 2019, phía Trung Quốc bắt buộc phải xuất tại cửa của những doanh nghiệp này, tức không được nhận xuất ủy thác cho các đơn vị khác.

Ngoài ra, phía Trung Quốc cũng yêu cầu doanh nghiệp được cấp phép xuất khẩu vào quốc gia này phải đăng ký công suất nhà máy. Chẳng hạn, doanh nghiệp có nhà máy công suất 100 tấn/ngày, tương đương 36.500 tấn/năm, thì mỗi năm xuất không quá số lượng đó, nếu vượt quá sẽ bị cắt giấy phép. Tức là cũng có nhiều chính sách siết lại, gây khó khăn, hạn chế nguồn gạo nhập khẩu từ Việt Nam.

Sự thay đổi chính sách, chủ trương xuất nhập khẩu của mỗi nước là không thể can thiệp, hơn nữa, gạo lại là mặt hàng nhạy cảm liên quan tới yếu tố an sinh xã hội, tới bảo đảm lương thực quốc gia vì thế chính sách có thể thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn rất khó chủ động ứng phó.

Nhưng nhìn tổng thể, cần xem đây là một chỉ dấu để điều chỉnh sản xuất, xuất khẩu gạo.

Bản thân các doanh nghiệp trong nước cần phải chủ động hơn nữa, cần "bỏ ăn đong" trong xuất khẩu gạo, chủ động thích ứng với việc điều chỉnh chính sách nhập khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế theo đường chính ngạch, nâng cao giá trị thương hiệu, truy xuất được nguồn gốc, tăng chất lượng, giá trị hạt gạo và phát triển các ngành công nghiệp chế biến sau thu hoạch để tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước cũng phải thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phải có những biện pháp ứng phó kịp thời để thích ứng trước nhiều thay đổi, đột ngột mà sự thay đổi chính sách, dựng rào cản kỹ thuật của Trung Quốc chỉ là một ví dụ.

Sự hỗ trợ doanh nghiệp trong nước cũng như thị trường xuất khẩu gạo trong nước bằng những công cụ chính sách là rất quan trọng nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, gỡ khó cho nông dân.

Thời gian qua có thể thấy, cơ quan quản lý nhà nước cũng đã có những phản ứng kịp thời, đưa ra nhiều cảnh báo cho doanh nghiệp và nông dân tuy nhiên còn thiếu những giải pháp tháo gỡ cụ thể, thiết thực, thiếu một chiến lược mang tầm nhìn bền vững, lâu dài. 

PV: Vậy với cách thức làm ăn như trên nếu muốn xuất khẩu được gạo vào thị trường Trung Quốc doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi thế nào, thưa ông?

PGS.TS Dương Văn Chín: Xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc ở phân khúc chất lượng cao thì doanh nghiệp của Việt Nam vẫn đang làm. Việt Nam có 20 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất gạo vào thị trường Trung Quốc và hoàn toàn có thể đáp ứng được mọi tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như đáp ứng được về khối lượng theo yêu cầu của thị trường nước này. Việc Trung Quốc thay đổi chính sách nhập khẩu, siết chặt tiêu chuẩn cũng không nằm ngoài những dự đoán, theo đó, các doanh nghiệp cũng luôn có sự chuẩn bị, nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường nước này.

Tuy nhiên, số doanh nghiệp như vậy không nhiều. Rất ít các doanh nghiệp hào hứng trong việc triển khai mô hình cánh đồng lớn liên kết do nguồn lực có hạn, thiếu vốn thu mua sản phẩm, đầu tư cho sấy, kho bãi, trong khi đó tiếp cận các nguồn vốn vay từ ngân hàng rất khó khăn. Giá lúa luôn biến động theo mùa vụ cho nên ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng liên kết tiêu thụ. Vì thế, thay vì lựa chọn cách thức làm ăn gắn kết  trực tiếp với nông dân thì nhiều doanh nghiệp lại đứng ra làm trung gian thu mua lúa gạo kiểu “ăn đong” rồi bán lại cho thương lái Trung Quốc hoặc xuất theo đường tiểu ngạch, doanh nghiệp hưởng phần lợi trước mắt.

Chính tâm lý đó nên sản lượng gạo được xuất theo con đường chính ngạch cũng rất hạn chế mà phần lớn gạo được xuất khẩu theo đường tiểu ngạch, thông qua các doanh nghiệp thương mại trung gian.

Khi Trung Quốc siết tiêu chuẩn nhập khẩu gạo sẽ làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp trung gian nhưng không làm ảnh hưởng tới sự tồn tại của doanh nghiệp này. Tuy nhiên, đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp lại là những người nông dân sản xuất lúa gạo bán cho các doanh nghiệp trung gian. Do thói quen chỉ sản xuất gạo cho thị trường Trung Quốc nên khi thị trường nước này bị thu hẹp, doanh nghiệp trung gian không thu mua, một khối lượng gạo rất lớn sẽ bị dư thừa, không thể bán đi đâu.

Trong trường hợp nông dân phơi sấy, tích trữ cũng không biết số phận hạt gạo sẽ ra sao, giá cả sẽ thế nào vì nếu không bán người nông dân sẽ không có tiền để chi trả các chi phí sản xuất nhưng nếu bán được cũng sẽ bị ép giá rất thảm. Trong hoàn cảnh nào người nông dân cũng thiệt.

Do đó, nếu muốn giữ được thị phần xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Quốc cần xây dựng nhiều hơn nữa những doanh nghiệp làm nông nghiệp quy mô, hiện đại, xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi bền vững giúp giảm giá thành sản phẩm, khép kín được chuỗi sản xuất, liên kết chặt chẽ giữa nông dân và doanh nghiệp, cách làm này lợi cho cả đôi bên.

Quan trọng hơn cả là sản phẩm sản xuất ra phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng được các tiêu chí kỹ thuật, chỉ tiêu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo tiêu chuẩn của mỗi nước.

Một trong những mô hình đáng tự hào trong lĩnh vực xuất khẩu gạo cần được nói tới là Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời.  Nhờ xây dựng thương hiệu bằng chất lượng, sự tín nhiệm giữa doanh nghiệp và nông dân Lộc Trời đã từng bước xây dựng được một thương hiệu đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe nhất.  Hiện nay, mỗi năm Lộc Trời đang xuất hàng chục tấn gạo sang châu Âu, mức xuất khẩu tương tự nhiều nước khác.

Để tiếp tục giữ vững được thị phần, Lộc Trời đã có đối sách rất cụ thể như tăng thị phần bán gạo cho thị trường nội địa trong nước; đa dạng hóa thị trường, tăng thị phần xuất khẩu sang Châu Âu, đặc biệt hướng tới những thị trường mới như Philippines và một số thị trường khác ở Trung Đông và Châu Phi. Các doanh nghiệp khác muốn đứng vững cũng cần phải có đối sách cho phù hợp.

Cần lưu ý, gạo của Việt Nam mặc dù đang chịu áp lực lớn từ thị trường Trung Quốc song vẫn có những lợi thế nhất định. Ngoài một số sản phẩm gạo cũ, chủ yếu được Trung Quốc bán sang các nước nghèo thì ở phân khúc gạo chất lượng cao nếu so sánh về chi phí sản xuất, giá thành bán ra gạo của Trung Quốc vẫn khó có thể cạnh tranh được với gạo của Việt Nam. Nhìn từ góc độ này, gạo Việt đủ khả năng cạnh tranh sòng phẳng được với gạo Trung Quốc.

Tóm lại, quan điểm chung đối với ngành sản xuất lúa gạo trong nước quan trọng nhất là phải tìm được thị trường phù hợp với sản phẩm gạo trong nước, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh bị phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.

Xóa độc quyền, tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp

PV: Những diễn biến trên thị trường đang gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước nhưng việc duy trì nhiều đặc quyền cho hai doanh nghiệp nhà nước như Vinafood 1, Vinafood 2 và các doanh nghiệp nhà nước cấp địa phương, ví dụ như Công ty TNHH một thành viên Cờ Đỏ, tỉnh Long An cũng được cho là không khuyến khích người dân làm ăn theo cách thức được thị trường chấp nhận.

Thống kê năm 2008 cho thấy, 10 doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất chiếm 70% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Riêng Vinafood 2 và Vinafood 1 đã chiếm tỷ trọng khoảng 40%, và cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp còn lại.

Các doanh nghiệp nhà nước xuất khẩu gạo chiếm tỷ trọng lớn chủ yếu là nhờ các hợp đồng chính phủ hay còn gọi là các hợp đồng tập trung. Các hợp đồng này thường được giao cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) quản lý và phân bổ cho các thành viên của Hiệp hội.

Sự bất cập trên cần phải được nhìn nhận và thay đổi thế nào? Trong bối cảnh thị trường gạo Trung Quốc ngày càng lớn mạnh mà nếu cách thức làm ăn như vừa qua không được thay đổi thì hệ quả sẽ ra sao?
 
PGS.TS Dương Văn Chín: Không sai, đây là thực tế đã tồn tại nhiều năm nay cũng gây không ít những bức xúc trong thị trường mua bán lúa gạo.

Thực tế, lâu nay các doanh nghiệp nhà nước xuất khẩu gạo chiếm tỷ trọng lớn chủ yếu là nhờ các hợp đồng chính phủ hay còn gọi là các hợp đồng tập trung. Các hợp đồng này thường được giao cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) quản lý và phân bổ cho các thành viên của Hiệp hội.

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước như Vinafood 1 và Vinafood 2 là những doanh nghiệp đứng đầu VFA và thông thường lãnh đạo của các công ty này cũng là Chủ tịch của VFA. 

Mặc dù những năm gần đây, vai trò của các hợp đồng tập trung ngày càng giảm, nhưng các hợp đồng này là chỗ dựa quan trọng để các doanh nghiệp này chiếm được ưu thế trên thị trường xuất khẩu gạo.

Với cách làm như trên đã tạo ra một môi trường kinh doanh bất bình đẳng và làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
 
Những tồn tại, hạn chế lâu nay cần phải được cải tổ, chấm dứt. VFA chỉ là hiệp hội của doanh nghiệp xuất khẩu và chỉ đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp. Theo đó, Hiệp hội cần trở về đúng với vị trí, chức năng, vai trò của mình. Cụ thể là cần xác định rõ vai trò hàng đầu là bảo vệ quyền lợi của hội viên chủ yếu trên thị trường quốc tế; dẫn dắt/định hướng phát triển thị trường lúa gạo theo đúng mục tiêu tăng chất lượng, tăng giá trị và xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế chứ không phải tham gia vào việc mua bán của doanh nghiệp.

Quan trọng nhất là phải tạo ra một sân chơi bình đẳng, công bằng, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân để thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao giá trị xuất khẩu và tăng thu nhập cho chuỗi giá trị lúa gạo trong nước.

Trung Quốc thành đối thủ mới về xuất khẩu gạo

PV:  Mới đây, Mỹ cũng cảnh báo, tới năm 2020 Trung Quốc sẽ trở thành thị trường xuất khẩu gạo lớn thứ 5 thế giới, điều này sẽ ảnh hưởng thế nào tới vị thế hiện tại trong thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam? Trong bối cảnh đó, Việt Nam nên làm gì?

PGS.TS Dương Văn Chín: Tôi cho rằng việc Mỹ cảnh báo về sự trỗi dậy của thị trường xuất khẩu gạo Trung Quốc hoàn toàn không có gì bất ngờ. Trung Quốc vừa là thị trường nhập khẩu lớn nhưng cũng đồng thời là thị trường xuất khẩu rất nhiều.

Điều quan trọng nhất lúc này không phải là giữ cho được vị trí xuất khẩu gạo thứ  2 thế giới mà cần xác định xem giá trị gia tăng thu về được bao nhiêu, người nông dân được lãi thế nào, đó mới là điều quan trọng nhất.

Nên nhớ, thị trường nội địa Việt Nam có tiềm năng rất lớn, nếu khai thác tốt thị trường trong nước thì lợi nhuận người nông dân được thu về cũng như giá trị gia tăng đạt được từ sản xuất lúa gạo sẽ cao hơn rất nhiều.

Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp quốc tế đã nhìn thấy được tiềm năng từ thị trường Việt Nam, do đó, nhiều doanh nghiệp quốc tế đã đổ tiền đầu tư, tổ chức sản xuất lúa gạo tại Việt Nam. Điển hình là nhà máy sản xuất gạo của Úc ở Long An. Trong bối cảnh hiện nay, nếu Việt Nam không tỉnh táo thay đổi cách thức làm ăn, thì khi gạo Việt không xuất được vào thị trường Trung Quốc nhưng muốn quay lại thị trường trong nước cũng khó cạnh tranh được, tức là đến thị trường trong nước cũng khó giữ được.

Nói như vậy để thấy rằng, ngoài sự thay đổi từ phía các cơ quan quản lý nhà nước thì bản thân các doanh nghiệp sản xuất gạo trong nước cũng phải chủ động thay đổi. Ngay trong công tác sản xuất cũng phải tiết giảm tối đa mọi chi phí, giảm thiểu các chi phí cho sản xuất, phân bón, nhằm giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh.

PV: Xin cảm ơn ông!

Lan Vũ