Tranh luận nóng

Đại thắng mùa xuân 1975: Những tiền đề cho thắng lợi

Thứ Tư, 29/04/2020 07:21

(Bình luận quân sự) - Bối cảnh quốc tế, điều kiện trong nước sau Hiệp định Paris có lợi cho chúng ta đẩy nhanh công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong kỳ trước với tiêu đề: “Đại thắng mùa xuân 1975: Thời cơ ngàn năm có một...” chúng ta đã biết, vào giai đoạn cuối năm 1975, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã suy yếu nhiều, tinh thần binh sĩ rệu rã do viện trợ của Mỹ giảm mạnh và những thất bại liên tiếp trên chiến trường. Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế cũng có những diễn biến có lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Liên Xô và Trung Quốc

Cũng vẫn như năm 1972, Liên bang Xô Viết hoàn toàn ủng hộ cuộc chiến đấu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Những thiệt hại vật chất của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bù đắp dần dần bằng những khoản viện trợ lớn của cả Liên Xô, Trung Quốc. Tuy nhiên, tỷ lệ viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự đã có sự thay đổi mạnh về cơ cấu.

Theo tài liệu của CIA, trong 2 năm 1973 - 1974, Liên Xô và Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2.525 triệu USD, trong đó có 730 triệu USD là viện trợ quân sự. Tổng viện trợ tuy cao hơn 2 năm 1971 - 1972 (2.525 triệu USD so với 2.220 triệu USD), nhưng phần viện trợ quân sự chỉ bằng 68,3% so với 2 năm trước đó (730 triệu USD so với 1.065 triệu USD).

Còn con số được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố thấp hơn nhiều so với con số mà CIA đưa ra. Cụ thể, trong 2 năm 1973-1974, chúng ta đã nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự từ các nước XHCN (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc), trị giá 339.355.353 rúp (tương đương 330 triệu USD), bằng 19% so với 2 năm 1971-1972.

Do đó, chúng ta đã đẩy mạnh tự lực sản xuất vũ khí và phương tiện để tăng cường năng lực hậu cần của mình. Trong hơn 2 năm từ 1973 đến 1975, chúng ta đã tự sản xuất được 3.409 tấn vũ khí đạn dược, 1.863 tấn phụ tùng xe, máy và 26.074 tấn quân trang, quân dụng khác.

Vừa dựa vào viện trợ, vừa đẩy mạnh phát huy nội lực của mình, đến giữa năm 1974, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã xây dựng lại nền kinh tế của mình với tổng lượng bằng mức năm 1965.

Dai thang mua xuan 1975: Nhung tien de cho thang loi
Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường chào đón quân Giải phóng tiến vào thành phố  trưa ngày 30/4/1975

Về ngoại giao, Liên Xô và Trung Quốc vẫn ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng quan điểm của Moscow và Bắc Kinh đã có sự khác biệt về cách thức và mục tiêu thực hiện.

Trong khi Liên Xô công khai ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giải phóng miền Nam bằng chuyến đi thăm hữu nghị đến Hà Nội của Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Đại tướng Victor Kulikov ngày 22 tháng 12 năm 1974, thì Trung Quốc không hẳn muốn chúng ta sớm giành thắng lợi, mặc dù Bắc Kinh biết đó là xu thế khó có thể đảo ngược.

Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc  đã chiếm quần đảo Hòang Sa từ tay Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Theo đánh giá của cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, người Trung Quốc không muốn có một nước Việt Nam thống nhất và mạnh mẽ ở biên giới phía nam của họ, nhằm tiếp tục hiện thực hóa âm mưu chiếm nốt Quần đảo Trường Sa.

Quan điểm của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng hòa

Về ngoại giao, trong dịp thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã ra thông cáo chung San Clemente ngày 4 tháng 4 năm 1973, trong đó, Hoa Kỳ cam kết ủng hộ Việt Nam Cộng hòa và chỉ công nhận Chính phủ Việt Nam Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, những hành động của chính quyền Washington lại trái ngược với những tuyên bố đó.

Mỹ đã từ chối cho Hải quân của mình yểm trợ Hải quân Việt Nam Cộng hòa vào thời điểm Trung Quốc đánh chiếm Quần đảo Hoàng Sa trong các ngày từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974, mặc dù lúc đó, Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đã có các tàu tuần dương và tàu khu trục đang hoạt động giữa biển Đông.

Ngày 9 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Richard Nixon buộc phải từ chức sau vụ bê bối Watergate. Phó tổng thống Gerald Ford kế nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ vẫn cam kết ủng hộ đồng minh Việt Nam Cộng hòa nhưng với những giới hạn cho phép, vì nền kinh tế Hoa Kỳ đang trong giai đoạn khó khăn sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và phải tập trung viện trợ quân sự cho Israel khoảng 1,5 tỷ USD để giữ đồng minh chiến lược này ở Trung Đông.

Trong lá thư ngày 10 tháng 8 năm 1972 của Tổng thống Hoa Kỳ do phó đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn W.J.Lehman trao tận tay Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, ông Gerald Ford nhắc nhở Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sử dụng viện trợ của Hoa Kỳ và các đồng minh một cách hữu hiệu hơn để có thể đưa lại một nền kinh tế tự túc trong vài năm tới.

Nếu như trong tài khoá 1972-1973, Việt Nam Cộng hòa còn nhận được 1.614 triệu USD thì đến tài khoá 1973-1974, Sài Gòn chỉ còn nhận được 1.026 triệu USD và đến tài khoá 1974-1975 thì chỉ còn 780 triệu USD.

Theo ông Nguyễn Tiến Hưng, đó là số viện trợ của Hoa Kỳ cho cả Việt Nam Cộng hòa, Campuchia và Lào và đó cũng chỉ là con số trên giấy tờ.

Trên thực tế, sau khi trừ đi các khoản của Cam pu chia và Lào, số viện trợ Hoa Kỳ vào miền Nam chỉ còn lại 313 triệu USD. Số dollars mua được từ nguồn dịch vụ cho trụ sở các cơ quan Hoa Kỳ và các đồng minh cũng sụt giảm từ 300-400 triệu/năm xuống còn 97 triệu (năm 1974).

Ở giai đoạn 2 năm 1974-1975, Hoa Kỳ coi việc giải quyết khủng hoảng dầu lửa và vấn đề Trung Đông, cùng với việc tái tạo trang bị cho đồng minh Israel sau khi họ thua trận trước đối thủ Ai Cập trên bán đảo Sinai tháng 10 năm 1973 là vấn đề quan trọng hơn, so với việc viện trợ cho đồng minh Việt Nam Cộng hòa.

Mặt khác, do những ràng buộc của Hiệp định Paris và không được sự ủng hộ cả hai viện của Quốc hội Hoa Kỳ nên khả năng can thiệp bằng quân sự ở Việt Nam của Chính phủ Hoa Kỳ là rất thấp.

Việt Nam Cộng hòa bất lực tìm kiếm sự hỗ trợ ngoài Mỹ

Sau khi Quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa không chỉ mất đi hỏa lực yểm hộ từ trên không, dưới mặt đất và ngoài biển mà còn thiếu hụt một khoản ngân sách lớn do viện trợ bị cắt giảm. Cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới năm 1973 đã chất thêm gánh nặng về chi phí nhiên liệu cho các hoạt động quân sự, dù chỉ là giới hạn trong tập luyện, bảo trì, bảo dưỡng phương tiện quân sự theo quy định của Hiệp định Paris và các văn kiện kèm theo.

Cơ số đạn dược các loại được cấp giảm từ 50% đến 65%; một nửa số chiến xa không thể ra khỏi căn cứ và khoảng 200 máy bay không thể cất cánh vì không đủ xăng dầu. Giá cả tiêu dùng tăng từ 2 đến 4 lần đối với lương thực, thực phẩm, nhiên liệu và một số hàng tiêu dung thiết yếu đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của dân chúng.

Để bù đắp thiếu hụt ngân sách và cân bằng cán cân thanh toán; ngoài việc yêu cầu một số nghị sĩ, dân biểu Mỹ vận động Quốc hội Hoa Kỳ nương tay, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã phái tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng và một số quan chức khác tìm kiếm các nguồn kinh phí để ổn định tình hình kinh tế xã hội, chi phí cho bộ máy chính quyền và duy trì lực lượng quân sự.

Sau chuyến đi không thành công của đại tướng Cao Văn Viên và tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng sang Hoa Kỳ tháng 5 năm 1974 với kết quả là sự cắt giảm 50% viện trợ Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng hoà và Tu chính án Kennedy cũng cấm sử dụng ngân sách riêng của Bộ Quốc phòng để chi tiêu cho các nước Đông Nam Á; Chính quyền Việt Nam Cộng hoà phải tìm đến các nguồn tài chính ngoài Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, việc tìm vay từ các nguồn vốn khác ngoài Hoa Kỳ cũng khó khăn như việc thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ không cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã ví việc đi kiếm tiền cho Việt Nam Cộng hòa như là "Cái nhục của kẻ đi cầu xin".

Những nguồn này hoặc không đủ thời gian để triển khai hoặc người có quyền phê duyệt tỏ thái độ không mặn mà hoặc các nước cho vay ra những điều kiện không được chi tiêu cho quân sự (kể cả trực tiếp và gián tiếp).

Tại Ngân hàng thế giới (WB), ông Nguyễn Tiến Hưng đã vấp phải thái độ thờ ơ và lãnh đạm của ngài chủ tịch Robert MacNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Linden B. Johnson.

Tại Pháp, thì trở ngại chính là ODA của chính phủ phải gắn với luật của Pháp và Paris cũng yêu cầu Sài Gòn phải sử dụng khoản vay ưu đãi này vào các công trình phúc lợi xã hội chứ không thể chi phí cho việc khác (kể cả quân sự), do đó, Việt Nam Cộng hoà không chịu nên khoản viện trợ 130 triệu fr Pháp bị đình lại.

Nhật Bản cũng có thái độ tương tự như Pháp; trong khi các nguồn viện trợ khác khá nhỏ và có khuynh hướng thiên về viện trợ nhân đạo; thỏa thuận vài trăm triệu USD với Saudi Arabia về thăm dò và khai thác dầu mỏ với lãi xuất nhẹ cuối cùng cũng tan vỡ, khiến hy vọng cuối cùng của phía Việt Nam Cộng hòa có được một ngân khoản vài trăm triệu USD để bổ sung và duy trì trang bị cho quân đội.

Có thể nói rằng, bối cảnh trong nước và quốc tế sau Hiệp định Paris là rất có lợi cho chúng ta đẩy nhanh việc hoàn thành mục đích cuối vùng là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cùng với đó, những diễn biến thuận lợi trên chiến trường đã giúp chúng ta vạch ra được một “Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam” sáng suốt và đúng đắn. Thời cơ chiến lược đã mở ra và chúng ta đã nắm lấy để đẩy nhanh công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Điều này chúng ta sẽ tìm hiểu trong kỳ sau.

Thiên Nam