Tranh luận nóng

Đại thắng mùa xuân 1975: Tạo thời cơ và chớp thời cơ

Thứ Năm, 30/04/2020 07:36

(Bình luận quân sự) - Năm 1974, chúng ta vạch ra kế hoạch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong 2 năm 1975 – 1976.

Trong các kỳ trước với tiêu đề: “Đại thắng mùa xuân 1975: Thời cơ ngàn năm có một...”“Đại thắng mùa xuân 1975: Những tiền đề cho thắng lợi” chúng ta đã biết rằng, vào giai đoạn cuối năm 1974, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã suy yếu nhiều, tinh thần binh sĩ rệu rã do viện trợ của Mỹ giảm mạnh và những thất bại liên tiếp trên chiến trường. Trong bối cảnh đó, chúng ta quyết tâm đạt được mục tiêu cuối cùng là giải phóng miền Nam chậm nhất là vào năm 1976, nếu thời cơ thuận lợi là năm 1975.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tính toán “thu hẹp lãnh thổ”

Sau Hiệp định Paris, khi rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ đã để lại 250.000 tấn vũ khí, bom đạn và 102 máy bay cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Trong giai đoạn 1973-1974, Washington vẫn tiếp tục viện trợ lớn cho chính quyền Sài Gòn.

Từ ngày 29 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 12 năm 1974, Mỹ cung cấp thêm 694 máy bay, 580 xe tăng, 520 xe bọc thép, 800 pháo, 204 tàu xuồng chiến, 1.550.000 tấn bom đạn và 2.530.000 tấn xăng dầu. Nhờ lượng vũ khí dồi dào, Việt Nam Cộng hòa đã nỗ lực tăng cường kiểm soát lãnh thổ.

Trong tháng 1 năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu đưa ra kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, “Kiện toàn an ninh lãnh thổ”, đẩy mạnh “Bình định đặc biệt” nhằm cố gắng hết sức để lấn chiếm được càng nhiều càng tốt vùng do Chính phủ cách mạng lâm thời kiểm soát. Quân đội Việt Nam Cộng hòa huy động toàn bộ quân địa phương và 40% quân chủ lực tiến hành càn quét lấn chiếm.

Theo thống kê của quân Giải phóng, trong thời gian từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 31-11-1974, Việt Nam Cộng hòa mở 58.082 cuộc càn quét, ném hơn 17 vạn quả bom, bắn hơn 6 triệu quả đạn pháo, giết và làm bị thương hơn 26.500 dân thường, buộc 1,6 triệu người di dời vào trong 333 khu tập trung dân, trong đó có 163 khu mới lập sau ngày ký Hiệp định Paris.

Đầu tháng 8 năm 1974, tại Sài Gòn đã diễn ra phiên họp quan trọng của Hội đồng An ninh quốc gia Việt Nam Cộng hòa dưới sự chủ trì của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tại hội nghị này, Trung tướng Đặng Văn Quang, phụ tá đặc biệt của Tổng thống, đã trình bày bản “Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975” do Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa soạn thảo.

Dai thang mua xuan 1975: Tao thoi co va chop thoi co
Sau khi rút khỏi miền Nam, Mỹ đã để lại và tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa số lượng vũ khí cực lớn

Mục tiêu chiến lược của bản kế hoạch này không còn đề cập đến các hoạt động tấn công rộng rãi để “tràn ngập lãnh thổ” như các kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973 và 1974 mà tập trung vào nhiệm vụ giữ vững những vùng chiếm đóng, tiếp tục xoá các điểm “da báo”, xóa các “vùng lõm” của quân giải phóng miền Nam.

Một trong các nhiệm vụ lớn được bàn thảo là việc ngăn chặn tiếp tế của Quân Giải phóng từ miền Bắc vào miền Nam.

Phó đô đốc Chung Tấn Cang, tư lệnh Hải quân báo cáo rằng, tuyến đường tiếp tế bằng đường biển của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gần như đã bị Hải quân Việt Nam Cộng hòa cắt đứt hoặc ít nhất cũng bị gián đoạn trong thời gian dài; do đó, khả năng đánh lớn trong năm 1975 là hạn chế.

Tuy nhiên, Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không quân, đã đưa ra những kết quả trinh sát đường không cho biết, đã có hàng chục vạn tấn tiếp liệu được đưa vào miền Nam qua hàng vạn km đường hành lang Đông và Tây Trường Sơn. Hệ thống ống dẫn dầu đã vào đến Bến Giàng (Quảng Nam) và đang tiếp tục được nối qua Hạ Lào và Cao nguyên trung phần và đến địa đầu Quân khu III. Tướng Minh nhận định, nếu không đánh lớn trong năm 1975, họ sẽ đánh lớn vào năm 1976.

Tại Hội nghị, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phân tích hai khả năng về quân sự: Một là: Hà Nội sẽ duy trì cuộc chiến với cường độ tăng dần đều trên toàn lãnh thổ để đòi thi hành Hiệp định Paris; Hai là Hà Nội sẽ mở cuộc tấn công tổng lực để đẩy nhanh chiến cuộc.Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng, khả năng thứ hai là thấp vì chúng ta còn phải để ý đến phản ứng của Hoa Kỳ.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thống nhất với nhận định: Bắc Việt có thể mở cuộc tấn công vào đầu năm 1975 với quy mô lớn hơn năm 1972 và kéo dài cả năm; có thể chiếm Quảng Trị, cô lập Huế, Đà Nẵng, lấy Kontum để gây áp lực với Pleiku; lấy Tây Ninh làm thủ đô đồng thời đẩy mạnh hoạt động du kích ở đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng thống Thiệu đã tính đến khả năng thu hẹp vùng lãnh thổ mà Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Tổng thống Thiệu cho rằng, nếu Quân giải  phóng tấn công mạnh thì sẽ khó giữ được Vùng I nên chỉ thị rằng “giữ được phần nào thì giữ”, nhưng phải cố gắng giữ vùng duyên hải miền trung và Vùng II vì tiềm năng dầu hỏa ngoài khơi rất lớn. Ở hướng Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột quan trọng hơn Kontum và Pleiku do tài nguyên dồi dào và dân số đông hơn hai vùng trên.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kết luận: Phương án tốt nhất là giữ được Đà Nẵng, nếu được cả Huế càng tốt. Phương án thứ hai là lùi về Quảng Nam, lấy Chu Lai làm căn cứ tiền tiêu. Phương án thứ ba là lui về Tuy Hòa.

Về thực chất, kế hoạch “thu hẹp lãnh thổ” của Tổng thống Thiệu là nội dung cốt lõi của bản kế hoạch tái bố trí lại binh lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa do Đại tướng Cao Văn Viên đệ trình hồi tháng 1 năm 1974 nhưng đã bị chính Thiệu gạt qua một bên.

Dai thang mua xuan 1975: Tao thoi co va chop thoi co
Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã tính đến khả năng “thu hẹp lãnh thổ”

Ta vạch kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm

Tháng 4 năm 1974, Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã có Nghị quyết 21 yêu cầu các cơ quan chiến lược giúp Tổng Quân ủy chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự, trong đó, tập trung xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Cuối tháng 8 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy miền cũng gửi ra Hà Nội bản Kế hoạch tác chiến mùa khô 1974-1975 với dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Nội dung kế hoạch này cũng được bổ sung vào dự thảo kế hoạch của Quân ủy Trung ương.

Cuối cùng, bản kế hoạch sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi đã được Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, trình bày tại Hội nghị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp tại Hà Nội vào ngày 30 tháng 9 năm 1974.

Bản dự thảo kế hoạch chiến lược đã vạch ra các bước, các đợt hoạt động quân sự, các hướng chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường; dự định hòan thành trong 2 năm 1975-1976. Theo đó, kế hoạch được chia làm 2 bước, mỗi bước tương ứng với 1 năm.

Bước 1 - Năm 1975: Dự kiến bất ngờ phát động các hoạt động quân sự trên phạm vi toàn bộ chiến trường miền Nam, theo ba đợt. Trong đó:

+ Đợt 1 (từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975): Hoạt động quân sự có mức độ với mục tiêu thăm dò phản ứng của đối phương tại Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

+ Đợt 2 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1975): Mở chiến dịch tấn công quy mô lớn ở Nam Tây Nguyên và các chiến dịch phối hợp ở Đông Nam bộ, Bắc Khu V, Trị Thiên, Đồng bằng sông Cửu Long.

+ Đợt 3 (từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975): Phát triển tấn công ở Nam Bộ, mở rộng vùng giải phóng ở Trị Thiên, Khu V, tiếp tục chuẩn bị lực lượng, vũ khí, phương tiện.

Bước 2 (1976): Tổng tiến công kết hợp với tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam dựa vào thời cơ có thể xuất hiện trong những giai đoạn sau:

+ Phương án 1: Sau đợt 2 (đợt tấn công chủ yếu của năm 1975).

+ Phương án 2: Đầu đợt 3 (phát triển tấn công ở Nam Bộ trong mùa mưa).

+ Phương án 3: Cuối năm 1975 (khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử).

Phương châm hành động là tiến công với cường độ tăng dần từ nhỏ đến lớn; hạn chế chiến tranh trong phạm vi chiến trường miền Nam Việt Nam; thăm dò và theo dõi phản ứng và khả năng tái can thiệp của Hoa Kỳ; sẵn sàng đối phó với các hành động phản ứng quyết liệt của Hoa Kỳ bằng không quân và hải quân, kể cả bằng lực lượng phản ứng nhanh trên bộ; khai thác khả năng nổi dậy của dân chúng tại các vùng, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định.

Dai thang mua xuan 1975: Tao thoi co va chop thoi co
Ta đã chủ động tạo thời cơ và chớp thời cơ để giải phóng miền Nam

Các ý kiến bổ sung của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp vào bản kế hoạch cũng chỉ rõ: “Mặc dù các năm 1975 và 1976 đều quan trọng nhưng năm 1975 là năm bản lề tạo điều kiện quyết định để năm 1976 đạt mục tiêu cuối cùng. Nếu thời cơ đến vào năm 1975 thì lập tức tiến hành tổng tấn công, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975”.

Hội nghị rút ra một số kết luận quan trọng: Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam thì khó có khả năng trở lại và dù chúng có thể can thiệp như thế nào chăng nữa cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Chúng ta đã thúc đẩy thời cơ chiến lược chín muồi, tạo nên những yếu tố quan trọng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Ở các đô thị miền Nam, phong trào đấu tranh đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu đang phát triển; vai trò của Mặt trận giải phóng được nâng cao; chính quyền thân Mỹ ở miền Nam đã suy yếu nghiêm trọng trên mọi lĩnh vực.

Từ ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng có các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy từ chiến trường ra tham dự, để bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976.

Bộ Chính trị kết luận: Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Đúng lúc này, tin thắng lợi Đường 14 - Phước Long báo về thực sự là minh chứng sống động khẳng định quân đội Sài Gòn không còn đủ sức chống chọi với Quân Giải phóng; Mỹ cũng không thể đưa quân can thiệp trở lại Nam Việt Nam.

Bộ Chính trị đã nhanh chóng thông qua Quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam vào năm 1975. Thời cơ chiến lược đã mở ra và chúng ta đã nắm lấy để đẩy nhanh công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trước hơn 1 năm so với kế hoạch ban đầu. Đây là điểm khởi đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong kỳ sau.

Thiên Nam