Tranh luận nóng

Lấy thước đo Kalibr: Đến bây giờ Liên Xô vẫn dẫn đầu

Thứ Tư, 26/02/2020 07:33

(Bình luận quân sự) -  Kiểu tên lửa “Kalibr” xuất sắc với những tính năng mà các quốc gia khác vẫn chưa thể nghĩ tới,

Lay thuoc do Kalibr: Den bay gio Lien Xo van dan dau

Xin được giới thiệu tiếp cùng bạn đọc một bài viết rất đáng quan tâm của Đại tá, TS Khoa học Quân sự, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Pháo binh và Tên lửa Nga Konstantin Sivkov với tiêu đề và phụ đề trên về tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự Liên Xô và những di sản Xô Viết để lại cho nước Nga- để bạn đọc cùng tham khảo.

Bài đăng trên “Người đưa tin công nghiệp quốc phòng” Nga ngày 18/2/2020 mới đây.

Sau đây là nội dung bài viết. Phần in nghiêng đậm để nhấn mạnh ý là của tác giả:

Lay thuoc do Kalibr: Den bay gio Lien Xo van dan dau

Khối tác chiến cơ động siêu thanh (M>5) “Avangard” và phiên bản hạt nhân của tên lửa Kh-101- quả đúng là những loại vũ khí mang tính đột phá đúng nghĩa.

“Avangard”, do có khả năng cơ động, nên trên thực tế là “bất khả xâm phạm” đối với bất kỳ hệ thống phòng thủ chống tên lửa nào, dù đang có hay sẽ có thể có trong tương lai, kể cả trong tương lai rất dài hạn.

Còn tên lửa Kh-101 với tầm bắn chưa từng có đối với những loại vũ khí cùng lớp, -xa hơn đối thủ “người Mỹ ” tới gần ba lần- trong khi vẫn không hề thua kém “đồng nghiệp Mỹ” về độ chính xác khi tấn công mục tiêu.

Phiên bản hạt nhân của tên lửa này (Kh-101) còn có tầm bắn xa hơn nữa, hơn tầm bắn của kiểu tên lửa Mỹ nổi tiếng “Tomahawk” nhiều lần.

Các quốc gia khác hiện vẫn chưa có gì (tên lửa nào) có thể sánh được với “Tomahawk” của Mỹ, chứ chưa nói gì đến những “tên lửa thần” (như Kh-101) của chúng ta (Nga).

Tuy vậy, tất cả những mẫu vũ khí tên lửa hạt nhân chiến lược khác còn lại (của Nga), kể cả phiên bản hạt nhân của “Kalibr” (phiên bản này đã được chế tạo tại Liên Xô, trước khi chính (tên lửa) “Kalibr” xuất hiện), đều không thể coi là các mẫu vũ khí mang tính đột phá đặc biệt- vì các quốc gia khác cũng có những mẫu vũ khí tương tự, chưa hết,- đôi khi những mẫu vũ khí của nước ngoài còn có tính năng ưu việt hơn các mẫu cùng loại của Nga.

Đưa “Bulava” lên bàn cân đối đầu

Chúng ta hãy bắt đầu từ tên lửa đạn đạo phóng từ biển. Thiết kế mới nhất của chúng ta (Nga) trong lĩnh vực này là (tên lửa đạn đạo xuyên lục địa-ICBM) “Bulava-30”,- chúng vừa mới chỉ được đưa vào trang bị trong năm 2018.

Chúng ta sẽ dẫn ra sau đây những tính năng của “Bulava-30” căn cứ vào những nguồn số liệu được công bố công khai và dựa vào các tuyên bố có liên quan của các quan chức cao cấp trong Bộ Quốc phòng Nga, cụ thể như sau:

Tầm bắn (của “Bulava”) - từ 8.000 đến 11.000 km (11.000 km- nếu giảm trọng lượng khối tác chiến), trọng lượng ném (thuật ngữ xin tạm hiểu là trọng lượng hữu ích- hoặc nôm na hơn- trọng lượng đầu tác chiến-ND) tối đa – 1.150 kg, trọng lượng phóng -khoảng 37 tấn, có thể mang từ 6 đến 10 khối tác chiến có khả năng cơ động hạn chế, độ chính xác khi tiếp cận mục tiêu (sai số xác suất vòng tròn- nôm na: độ lệch tối đa của điểm rơi so với điểm ngắm)- từ 120-350 mét.

Đây là kiểu tên lửa nhiên liệu rắn nên tương đối an toàn khi khai thác trên các tàu chiến. Tên lửa nước ngoài hoàn thiện nhất thuộc lớp này là tên lửa UGM-133A “Trident- II D5” của Mỹ.

Tên lửa lớp “Trident” được Hải quân Mỹ đưa vào trang bị từ năm 1990. Nó cũng là tên lửa nhiên liệu rắn như (tên lửa “Bulava-30”) của chúng ta, có trọng lượng phóng gần 60 tấn và cũng có tầm bắn tối đa như của tên lửa Nga (“Bulava-30”)- tức từ 8.000 đến11.300 km.

Độ chính xác khi bắn- tức sai số xác suất vòng tròn là 120m, cũng tương tự như “Bulava”. Nhưng trọng lượng đầu tác chiến gần gấp đôi của chúng ta (“Bulava”)- tới 2,8 tấn.

Thành thử, (do trọng lượng đầu tác chiến lớn nên) số lượng khối tác chiến mà tên lửa Mỹ có thể mang là từ 8 đến 14, và tổng công suất của chúng lên tới 457 kiloton.

Vì vậy mà tuy tên lửa UGM-133A “Trident-II D5” của Mỹ đã được đưa vào trang bị 30 năm trước đây, nó vẫn có các tính năng kỹ- chiến thuật vượt trội so với “bạn đồng cấp” Nga vửa mới được thiết kế (tức “Bulava”-ND).

“Liên Xô không tính đến khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược trước, chính vì vậy mà độ chính xác cao là không cần thiết”

Trong khi đó, Nga thừa kế từ Liên Xô tên lửa R-39. Nó cũng là tên lửa nhiên liệu rắn và có trọng lượng phóng gần 90 tấn. Trọng lượng đầu tác chiến- gần 2,6 tấn với tầm bắn 8.300 km.

Thành thử, nếu trọng lượng đầu tác chiến nhỏ hơn- tầm bắn sẽ còn lớn hơn nữa. Tên lửa mang tới 10 khối tác chiến, mỗi khối có công suất từ 100 đến 200 kiloton (theo dữ liệu từ các nguồn công khai).

Độ chính xác khi bắn, tức sai số xác suất vòng tròn - 500 mét. Tên lửa R-39 được đưa vào trực chiến năm 1984 và được trang bị cho các tàu ngầm dự án 941 “Typhoon”.

Cùng trong khoảng thời gian đó, Hải quân Mỹ được trang bị tên lửa “Trident-I”. Bắt đầu trực chiến từ năm 1979, tên lửa “Trident-I” có tầm bắn từ 7.400 đến 8.000 km – nhỏ hơn so với (của) chúng ta (R-39).

Với trọng lượng phóng gần 32 tấn, nó có thể mang đầu tác chiến nặng tới 1.250 kg gồm tối đa tám khối tác chiến công suất 100 kiloton mỗi khối. Độ chính xác của “Trident-I” cũng kém hơn (của chúng ta, Nga)- sai số xác suất vòng tròn lên tới 700 mét.

Có nghĩa là ngay vào thời kỳ đó, tên lửa của chúng ta đã vượt qua "người Mỹ" (“Trident-I”) về tất cả mọi phương diện (các tính năng). Và người Mỹ đã phải mất thêm sáu năm nữa mới đuổi kịp được Liên Xô trong lĩnh vực này.

Thật thú vị, bởi vì nếu giờ chúng ta đem so sánh các tính năng về trọng lượng và tầm bắn, thì mới tá hỏa ra rằng các tính năng của “Bulava-30” siêu “hiện đại” của chúng ta cũng chỉ tương đương với (các tính năng tương tự) của “Trident-I” cũ kỹ của Mỹ, tuy có hơn nó (“Trident-I”) đáng kể nếu tính theo tiêu chí độ chính xác.

Nhưng Liên Xô khi đó, ngoài tên lửa R-39, còn có các tên lửa thuộc dòng R-29, R-29D, R-29R và R-29RM. Tên lửa R-29 được đưa vào trang bị năm 1974 có tầm bắn 7.800 km, trong khi tên lửa chủ yếu của Mỹ thời kỳ đó là “Poseidon-S3” chỉ bay được có 4.600 km.

Độ chính xác của các tên lửa chúng ta và của người Mỹ cũng xấp xỉ nhau- sai số xác suất vòng tròn đều là 1.400 mét. "Người Mỹ" (“Poseidon-S3”) vượt trội so với tên lửa chúng ta (R-29) về trọng lượng đầu tác chiến (2 tấn so với 1,1 tấn) và đầu đạn có thể chứa tới 8 khối tác chiến, nhưng các khối tác chiến công suất khoảng 100 kiloton này lại không phải là các khối tác chiến tự dẫn.

Trong khi công suất đầu tác chiến trên tên lửa của chúng ta lên tới 1 MT. Và đến năm 1978, Hải quân Liên Xô đã tiếp nhận và đưa vào trực chiến tên lửa mới R-29D với tầm bắn hơn 9.000 km.

Mãi đến năm 1990, Người Mỹ mới có thể “với tới” chỉ số như vậy (tầm bắn 9.000km)- cho tên lửa “Trident- II D5”. Còn với chúng ta (Liên Xô), thì từ năm 1978, Hải quân được trang bị tiếp tên lửa R-29R có tầm bắn tới 8.000 km .

Trọng lượng tác chiến lên tới 1.650 kg - nhiều hơn 30% so với “Trident I” của Mỹ được đưa vào trang bị một năm sau đó (1979). Còn tên lửa R-29RM được đưa vào trang bị năm 1986 vượt trội hơn “Trident-I” Mỹ về mọi tính năng kỹ- chiến thuật.

Để đạt được các tính năng như của R-29RM Liên Xô, cũng giống như với trường hợp của R-39, người Mỹ chỉ có thể hiện thực hóa trên "Trident-II D5" vào tận năm 1990.

Và nếu như không có những “cải cách” khét tiếng như chúng ta đã biết, thì sự phát triển của các tên lửa Liên Xô phóng từ biển có thể dẫn đến việc chúng ta đã có thể trang bị cho các tàu ngầm mang tên lửa của chúng ta những kiểu tên lửa có tính năng vượt xa “Trident- II D5” đang trực chiến của Mỹ ngay vào giữa những năm 90- cả tên lửa nhiên liệu rắn lẫn tên lửa nhiên liệu lỏng.

Và vì không được như vậy, nên ngày nay chúng ta mới buộc phải chấp nhận “Bulava-30” là kiểu tên lửa triển vọng duy nhất (cho các tàu ngầm), vì những mẫu tên lửa phát triển từ R-29RM được thiết kế cho các tàu ngầm đã không còn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu hiện đại, việc thay thế chúng là không thể tránh khỏi trong thời gian tương đối ngắn sắp tới.

Để đuổi kịp “Trident- II D5” của Mỹ, chúng ta sẽ còn phải cố gắng nhiều.

"Voevoda "- đứng ngoài mọi cuộc cạnh tranh

Tình hình cũng tương tự như vậy với các tên lửa phóng từ mặt đất. Đỉnh cao của những thành tựu Liên Xô trong lĩnh vực này- tên lửa hạng nặng R-36M được đưa vào trang bị năm 1975.

Nó có trọng lượng đầu tác chiến gần 9 tấn, trọng lượng phóng gần 210 tấn. Độ chính xác là quá xuất sắc vào thời kỳ đó – sai số xác xuất vòng tròn chỉ khoảng 1 km với tầm bắn tối đa từ 10.200 km đến 16.000 km, tùy thuộc vào trọng lượng đầu tác chiến.

Các tham số của các khối tác chiến - đến 8 khối tự dẫn công suất tới 900 kiloton mỗi khối. Kết quả phát triển tiếp theo của R-36M- đó là vào năm 1990 Liên Xô đưa vào trực chiến tên lửa R-36M2 – tên lửa “Voevoda” khét tiếng hiện vẫn đang còn trong trang bị của Bộ đội Tên lửa Chiến lược Nga.

Chưa bao giờ và chưa ai có được một tên lửa gần được như vậy, kể cả Mỹ. Kiểu tên lửa Mỹ phóng từ mặt đất tiên tiến nhất đang có trong trang bị của một số quốc gia- đó là MX.

(MX) Được đưa vào trang bị năm 1986, mãi11 năm sau khi R-36M của chúng ta xuất hiện,- với trọng lượng phóng 89 tấn, nó có trọng lượng tác chiến nhỏ hơn hai lần so với (R-36M) của chúng ta, chỉ 3,9 tấn. Nó mang 10 khối tác chiến công suất 300 kiloton mỗi khối.

Tổng công suất 3 Mt - ít hơn ba lần so với R-36M của chúng ta. Tên lửa này chỉ có ưu thế hơn tên lửa chúng ta ở độ chính xác khi bắn – sai số xác suất vòng tròn 90-120 mét so với 500 mét của R-36M2 “Voevoda”.

Nhưng ưu thế này của “người Mỹ” (độ chính xác) có một lý do chính- đó là sự khác biệt trong cách tiếp cận vấn đề sử dụng lực lượng hạt nhân chiến lược:

Liên Xô không tính tới khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược trước – với Liên Xô thì loại vũ khí này chỉ được sử dụng trong các cuộc phản công trả đũa hoặc đáp trả- trả đũa (đáp trả- trả đũa:

đòn tấn công được thực hiện ngay khi đối phương vừa phóng tên lửa-ND), trong khi đó thì Học thuyết sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược của người Mỹ là tiến hành một cuộc tấn công “phủ đầu” để “tước vũ khí” và “đánh đập đầu” đối phương.

Vì vậy, các tên lửa Mỹ cần đạt độ chính xác cao để tiêu diệt các mục tiêu điểm được bảo vệ đặc biệt – như các hầm phóng ICBM và các sở chỉ huy Lực lượng kiềm chế hạt nhân chiến lược, trong khi đó đối với Liên Xô thì việc hủy diệt các những mục tiêu như vậy không có ý nghĩa gì- (vì khi đó các tên lửa Mỹ đã được phóng đi, việc (Liên Xô) cần phải làm là đảm bảo hủy diệt các mục tiêu trên diện rộng, như các nhà máy và các trung tâm hành chính- trung tâm chính trị của đối phương- và để hủy diệt được các mục tiêu như vậy, điều kiện cần trước hết là công suất (lớn) và số lượng (nhiều) các khối tác chiến mang đến được đến các mục tiêu cần tấn công.

Thêm nữa, cũng chỉ có 50 quả tên lửa MX của Mỹ được triển khai. Lực lượng chính của tiềm lực tên lửa hạt nhân phóng từ mặt đất Mỹ đã là (và vẫn là) các tên lửa “Minuteman” với nhiều biến thể khác nhau, - nhưng dù là biến thể nào thì chúng cũng đều có các tính năng thua kém (các tính năng) của R-36M Xô Viết nhiều lần.

Cũng cần phải nhắc rằng lại chính ưu thế kỹ thuật quân sự áp đảo của Liên Xô trước Mỹ trong lĩnh vực chế tạo ICBM hạng nặng (trong số đó có những tên lửa “toàn cầu” có tầm bắn cho phép chúng tấn công kẻ thù theo bất kỳ quỹ đạo nào) đã khiến Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán để ký Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược đầu tiên trong lịch sử.

Tất nhiên, Liên Xô cũng tụt hậu so với các đối thủ, nói chính xác hơn, tụt hậu so với đối thủ chủ yếu là Mỹ, ở một số các lĩnh vực chế tạo vũ khí. Tuy nhiên, trong suốt nửa sau của thế kỷ 20, nếu nói về các lớp vũ khí chính, Liên Xô đã có ưu thế vượt trội về khoa học kỹ thuật- quân sự.

Liên Xô đã giữ vị trí đứng đầu không thể tranh cãi trong lĩnh vực chế tạo xe tăng, và vượt xa các đối thủ cạnh tranh gần nhất trong lĩnh vực này.

Cho đến tận bây giờ, các tên lửa chống hạm Xô Viết- như tên lửa chống hạm tầm thấp và cận siêu thanh (M=3) “Zircon”, các tên lửa thông minh “Granit” và “Bazalt”, tên lửa “Vulcan” hiện giờ vẫn chưa có đối thủ xứng tầm nếu tính về tầm bắn và đặc tính đường bay.

Kiểu tên lửa “Kalibr” xuất sắc với những tính năng mà các quốc gia khác vẫn chưa thể nghĩ tới, kể cả quốc gia tiên tiến nhất là Mỹ, đó cũng chính là “cánh tay” (thành tựu) của USSR (Liên Xô):

tên lửa này (“Kalibr”) đã được thử nghiệm thành công vào cuối những năm 80 và nếu như không có các cuộc “cải cách” như đã nói, thì chúng ta (Nga) đã đưa nó vào trang bị chậm lắm vào giữa những năm 90 rồi– tức là gần một phần tư thế kỷ trước đây.

Kiểu máy bay tiêm kích- ném bom tiên tiến nhất trong thời đại chúng ta là Su-34, cũng là một sản phẩm Xô Viết. Máy bay này đã hoàn thành các thử nghiệm từ năm 1989 và lẽ ra đã được đưa vào trang bị vào đầu những năm 90.

Chúng ta tự hào về tổ hợp (laser tác chiến) “Peresvet” của mình, nhưng đã quên đi một thực tế là Liên Xô đã chế tạo và thử nghiệm thành công laser chiến đấu bay thực sự- đó là máy bay A-60.

Máy bay này hoạt động ở độ cao lớn và vì vậy, nó ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, có thể giải quyết các nhiệm vụ được giao cho “Peresvet” ngày hôm nay tốt hơn nhiều (so với “Peresvet”).

Người Mỹ cũng đã cố gắng tạo ra một “sản phẩm” tương tự- nhưng chỉ mãi vào cuối những năm 90, sau khi đã tiếp cận được các công trình thiết kế Xô Viết trong lĩnh vực chế tạo vũ khí laser vì sự phản bội của giới lãnh đạo cao nhất chính quyền Nga thời đại Yeltsin.

Phải công nhận rằng, cho đến tận bây giờ, Liên Xô vẫn giữ được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực chế tạo rất nhiều chủng loại vũ khí- đi trước cả phần còn lại của thế giới, cho dù, chính bản thân Liên Xô đã không còn tồn tại.

  • Lê Hùng- Nguyễn Hoàng (dịch)