Tranh luận nóng

Phòng không Việt Nam - chiến đấu bằng mọi loại vũ khí có

Thứ Bảy, 11/08/2018 08:11

(Hồ sơ) - Sau khi Mỹ chấm dứt ném bom VNDCCH, cuộc chiến đường không tại Đông Nam Á (Miền Nam Việt Nam-ND) vẫn tiếp diễn.

Theo số liệu được công bố trong các nguồn của chúng ta (Liên Xô và Nga), trong giai đoạn từ 1972 đến 1975, Bộ đội Việt Nam đã phóng 589 quả tên lửa “Strela-2” và bắn hạ 204 máy bay và máy bay lên thẳng Mỹ và Nam Việt Nam. Nhưng có lẽ con số trên là quá cao so với thực tế.

Theo các số liệu của phía Mỹ thì “Strela- 2” bắn hạ không nhiều hơn 50 phương tiện bay (máy bay và máy bay lên thẳng) và con số này có lẽ là phù hợp hơn với những số liệu thống kê trung bình về hiệu quả sử dụng trong tác chiến của các tổ hợp tên lửa phòng không vác vai Xô Viết thế hệ đầu này trong các cuộc xung đột quân sự khác trên thế giới.

Hoặc nếu tin theo cuốn sách của Kris Gobson: “Những tổn thất trên bầu trời Việt Nam” và tính tới kết quả sử dụng “Strela-2” tại cả Campuchia và Lào thì các tổ hợp “Strela-2” đã bắn hạ khoảng gần 100 máy bay và máy bay lên thẳng Mỹ và đồng minh.

Bên cạnh đó, rất nhiều nhà nghiên cứu cũng nhận xét rằng sức công phá của đầu tác chiến tên lửa tổ hợp vác vai này tương đối yếu. Nó hoàn toàn đủ (khả năng sát thương) để tiêu diệt các máy bay lên thẳng UH-1 Iroquois và АН-1 Cobra, cũng như các máy bay cường kích hạng nhẹ như A-1 Skyraider và A-37 Dragonfly. Tuy nhiên, đối với những máy bay lớn hơn thì trong nhiều trường hợp những máy bay này tuy bị trúng tên lửa nhưng vẫn quay về được căn cứ.

Ngoài các máy bay lên thẳng và máy bay cường kích, nạn nhân của “Strela-2” tại Đông Nam Á còn là các “Gunship” AC-130 Spectre và các máy bay vận tải quân sự được huy động để cung cấp hàng cho các tiền đồn của Quân Việt Nam Cộng hòa bị bao vây.

Lỗ thủng do trúng tên lửa phòng không vác vai trên chiếc máy nbay AC-130 Spectre quay về được căn cứ Trong số những máy bay “sống qua” được đòn tấn công của “Strela-2” có cả 2 chiếc máy bay tiêm kích F-5Е Tiger II của Không quân Việt Nam Cộng hòa.

Tuy có một số hạn chế như vậy nhưng tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “Strela-2” cùng với các phương tiện phòng không khác đã giữ một vai trò rất quan trọng trong giai đoạn kết thúc chiến tranh vì đã không cho Không quân Nam Việt Nam cơ hội chặn các đợt tấn công của các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Một ví dụ cụ thể, ngày 29/4/1975, tức chỉ một ngày trước khi kết thúc chiến tranh, “Strela-2” đã bắn hạ 1 chiếc A-1 Skyraider và 1 chiếc АС-119К Stinger trên bầu trời Sài Gòn.

Một chiếc máy bay cường kích động cơ pitông А-1sau khi hạ cánh bắt buộc Về con số tổn thất chính xác của Không quân, Không quân hải quân, Không quân lục quân và Không quân Quân đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ trong những năm Chiến tranh Việt Nam- cho đến tận bây giờ vẫn là một chủ đề tranh cãi sôi nổi giữa các học giả, chuyên gia.

Như lịch sử tất cả các cuộc chiến tranh cho thấy, tính toán tổn thất bao giờ cũng là một công việc cực kỳ khó khăn do không có đầy đủ thông tin, do sai sót – nhầm lẫn của các quan chức khi lập các văn bản báo cáo- thống kê hoặc của các nhà nghiên cứu khi thu thập và phân tích thông tin, và đôi khi còn là cả sự cố tình làm sai lệch các dữ liệu khách quan.

Để nghiên cứu một cách chi tiết vấn đề này, cần phải có một ấn phẩm riêng, - nhưng xuất phát từ những phân tích khách quan các nguồn dữ liệu khác nhau có thể đi đến kết luận rằng người Mỹ dã mất tại Đông Nam Á (Đông Dương- có lẽ như vậy) gần 10.000 phương tiện bay: khoảng gần 4.000 máy bay, hơn 5.500 máy bay lên thẳng và 578 máy bay trinh sát không người lái.

Cũng cần phải cộng thêm vào con số đó tổn thất của các đồng minh của Mỹ: Không quân Úc mất 13 máy bay và máy bay lên thẳng, Không quân Việt Nam Cộng hòa mất hơn 1.300 máy bay và máy bay lên thẳng.

Tất nhiên, không phải tất cả các máy bay nói trên của Mỹ và đồng minh đều là “tổn thất trong tác chiến” trên không. Một phần trong số đó gặp sự cố kỹ thuật khi bay, một phần khác bị du kích Việt Cộng phá hủy ngay trên sân bay.

Ngoài ra, Bắc Việt Nam trong năm 1975 còn thu được tại các căn cứ không quân trên đất Nam Việt Nam tới 877 máy bay và máy bay lên thẳng. Chiến lợi phẩm của Quân đội VNDCCH thậm chí còn là tổ hợp phòng không tự hành М42 Duster do Mỹ sản xuất và được bộ đội Bắc Việt và“Việt Cộng” sử dụng để tiêu diệt cả các mục tiêu trên mặt đất trong giai đoạn cuối cuộc chiến.

Trước đó, trong năm 1965, để đề phòng các cuộc tấn công đường không của máy bay ném bom Il-28 Không quân Bắc Việt, người Mỹ đã triển khai quanh những căn cứ không quân của mình các tổ hợp tên lửa phòng không MIM-23 HAWK, nhưng khi Mỹ rút quân thì họ đã không bàn giao cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa mà đã chuyển hết “Hawk” về Mỹ.

Về phần mình, Không quân VNDCCH mất 154 máy bay tiêm kích,- trong đó tổn thất trong các trận không chiến gồm: 63 MiG-17, 8 chiếc J-6 và 60 MiG-21. Các đơn vị vô tuyến kỹ thuật và Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam mất hơn 70% các đài radar và tổ hợp tên lửa phòng không.

Mặc dù vậy, phải công nhận rằng lực lượng phòng không VNDCCH, với sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc đã gây cho Không quân chiến đấu Mỹ- lực lượng tấn công chủ yếu (của Mỹ) trên Chiến trường Việt Nam, những tổn thất không thể chịu đựng nổi ngay cả đối với Mỹ.

Những tổn thất đó cuối cùng đã buộc giới lãnh đạo Mỹ phải tìm lối thoát ra khỏi cuộc xung đột và dẫn tới sự nghiệp thống nhất hai miền Việt Nam thành một quốc gia duy nhất.

  • Lê Hùng- Nguyễn Hoàng (còn tiếp)