Tranh luận nóng

Nudol sẽ thay thế Amur: Sẵn sàng đối mặt Mỹ

Thứ Hai, 25/01/2021 18:24

(Vũ khí) - Hệ thống phòng thủ chống tên lửa bảo vệ Khu công nghiệp Trung tâm và thủ đô Matxcova đã sẵn sàng đối mặt với những mối đe dọa mới từ phía Mỹ

Xin giới thiệu tiếp bài viết của chuyên gia quân sự, kỹ sư chính Phòng Thiết kế tên lửa TSIMSH Tuchkov Vladimir với tiêu đề và phụ đề trên cung cấp một số thông đáng quan tâm về cả hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Nga và Mỹ. Bài đăng trên tuần báo “Người đưa tin công nghiệp quốc phòng” ngày 14/12/2020.

Nudol se thay the Amur: San sang doi mat My

Cuối tháng 11 (2020) vừa qua, tại trường bắn Sary-Shagan ở Kazakhstan, Nga đã tiến hành thành công các thử nghiệm một kiểu tên lửa đánh chặn mới và tên lửa này sẽ sớm được đưa vào trang bị cho hệ thống phòng thủ chống tên lửa bảo vệ Matxcova và Khu công nghiệp trung tâm Nga.

Đây không phải là lần thử nghiệm đầu tiên kiểu tên lửa có khả năng đánh chặn các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) có một không hai này.

Trong tất cả các lần thử nghiệm trước đó, kể cả lần phóng gần đây nhất, tất cả các mục tiêu trên không đều đã bị nó bắn hạ và mọi tính năng kỹ- chiến thuật của tên lửa đã được xác nhận là đạt các yêu cầu đặt ra.

Đấy là tên lửa 53T6M sẽ được sử dụng trong hệ thống phòng thủ tên lửa A-235 “Nudol” sắp được triển khai của Nga.

Nó là phiên bản hiện đại hóa từ tên lửa đánh chặn tầm gần 53T6 đang trực chiến trong hệ thống phòng thủ chống tên lửa A-135 "Amur" hiện tại với những tính năng không thể với tới đối với bất kỳ kiểu tên lửa đánh chặn nào khác đang có trong trang bị của các nước trên thế giới.

Tên lửa 53T6 chịu được lực quá tải theo chiều dọc là 210 G, chiều ngang - 90 G. Tốc độ bay đạt gần 6 km/ giây. Các công trình sư Nga đã phải hiện thực hóa các khả năng chịu lực quá tải ngoài giới hạn như vậy do cự ly và tầm cao đánh chặn tối đa của tên lửa giới hạn ở ngưỡng lần lượt là 100 và 30 km.

Còn đây, tên lửa 53T6M sẽ còn phải có những tính năng vượt trội hơn cả những tính năng dường như không tưởng trên (của 53T6).

Chưa hết- còn sẽ có một kiểu tên lửa khác trang bị cho hệ thống phòng thủ chống tên lửa “Nudol” – đó là một tên lửa đánh chặn tầm xa. Nó sẽ thay thế tên lửa 51T6 đang có.

Độ cao đánh chặn của nó- từ 70 đến 670 km và cự ly đánh chặn – từ 130 đến 850 km. Nhưng có thông tin cho rằng tên lửa hai tầng mới này sẽ có độ cao đánh chặn tối đa là 750 km và tầm bắn 1.500 km.

Hai học thuyết phòng thủ chống tên lửa

Công tác xây dựng hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Liên Xô bắt đầu được triển khai vào cuối những năm 1950. Năm 1971, Liên Xô đã đưa vào trực chiến hệ thống A-35 với các thành tố cấu thành được bố trí ở khu vực ngoại ô Matxcova.

Hệ thống A-35 có trong thành phần của nó các tên lửa đánh chặn phóng từ hầm phóng A-350 và một mạng các radar.

Do độ chính xác khi dẫn đến mục tiêu khi đó khá thấp nên tên lửa A-350 được lắp đầu tác chiến hạt nhân công suất 2 megaton. Đầu tác chiến nổ bên ngoài bầu khí quyển, vì vậy nên không gây tác hại nào đáng kể đối với khu vực được bảo vệ.

Không lâu sau đó, đầu tác chiến 2 megaton được thay bằng đầu tác chiến 20 kiloton khi nổ tạo ra luồng neutron cực mạnh. Như vậy là đủ để vô hiệu hóa đầu đạn của tên lửa đối phương.

Còn nước Mỹ- nước này bắt đầu xây dựng hệ thống phòng thủ chống tên lửa của mình vào đầu những năm 70, khi Luật (hiệp ước) về phòng thủ chống tên lửa (tức Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo, gọi tắt là Hiệp ước ABM (Anti-Ballistic Missile Treaty) ký ngày 26/5/1972- với điều khoản chính quy định chỉ triển khai hệ thống tại một khu vực của mỗi nước và sử dụng không quá một trăm quả tên lửa đánh chặn-ND) bắt đầu có hiệu lực.

Nếu như Liên Xô bảo vệ thủ đô Matxcova và Khu công nghiệp Trung tâm (từ Bryansk đến Kostroma), thì Mỹ- khu vực được bảo vệ là căn cứ không quân Grand Forks ở Bắc Dakota, nơi tập trung các ICBM Minuteman có độ chính xác cao và rất mạnh vào thời điểm lúc bấy giờ. Hệ thống của Mỹ với tên gọi “Safeguard” bắt đầu trực chiến vào năm 1975.

Tuy nhiên, chỉ một năm sau đó, Mỹ đã xem xét lại một cách cơ bản học thuyết tổ hợp răn đe tên lửa hạt nhân. Mỹ chuyển sang ưu tiên bố trí các ICBM trang bị cho tàu ngầm vì làm như vậy sẽ không cần phải bảo vệ các tàu ngầm hạt nhân trước một cuộc cuộc tấn công tước khí giới (phủ đầu) bằng vũ khí hạt nhân của đối phương.

Chính vì vậy mà hệ thống phòng thủ chống tên lửa ở Bắc Dakota đã không còn hữu dụng nữa. Năm 1976, hệ thống này được niêm cất, một thời gian ngắn sau đó- đã bị tháo dỡ.

Hệ thống A-35 là một hệ thống mang tính quá độ giữa tình trạng (Liên Xô) hoàn toàn không có khả năng phòng thủ chống tên lửa và không có khả năng tự bảo vệ đáng tin cậy trước một cuộc tấn công tước khí giới, khi mà chỉ có một số lượng hạn chế ICBM của đối phương được sử dụng.

Công tác lập dự án và thiết kế các phương tiện kỹ thuật cho hệ thống A-135 "Amur" đã được bắt đầu ngay cả trước khi A-35 được đưa vào trực chiến. Các nhà thiết kế hàng đầu của hệ thống này là Tập đoàn Khoa học- sản xuất (NPO) “Vympel”, Viện Nghiên cứu các Thiết bị Vô tuyến, Phòng Thiết kế “Novator”.

Tổng công trình sư là Anatoly Basistov. Đây không phải là phương án hiện đại hóa hệ thống A-35, mà là xây dựng một hệ thống hoàn toàn mới.

Hệ thống A-135 được xây dựng ở khu vực ngoại ô Matxcova trong những năm 1970 và 1980 song song với hệ thống A-35 đang hoạt động, và sau đó, tất cả trang thiết bị của A-35 đều được tháo dỡ.

Trong thành phần của Hệ thống A-135 được đưa vào trực chiến năm 1995, có:

- Radar cảnh báo sớm và bám mục tiêu “Don-2N”;

- hai kiểu tên lửa đánh chặn phóng từ hầm phóng: tên lửa đánh chặn tầm gần và tên lửa đanh chặn tầm xa, như đã được đề cập ở trên;

- bảy tổ hợp phóng;

- trung tâm máy tính- chỉ huy sử dụng máy tính điện tử cực mạnh vào thời điểm đó là "Elbrus-2".

Radar "Don-2N" là một trạm radar có kích thước rất lớn có hình dạng một kim tự tháp cụt bốn mặt với các cạnh đáy có chiều dài 144 mét, chiều cao - 35 mét. Ở các mặt bên có bốn ăng-ten mảng pha với hàng trăm nghìn mô-đun thu phát.

Trong quá trình xây dựng trạm radar này, đã sử dụng tới 30.000 tấn kim loại, 50 .000 tấn bê tông, 20.000 km dây cáp. Tham gia xây dựng có khoảng 20.000 lính công binh Liên Xô.

Kết quả- một radar dải sóng centimet với các tính năng độc đáo, và, đến thời điểm hiện tại, sau một số lần hiện đại hóa, các tính năng này đã được cải thiện rất đáng kể . Độ cao phát hiện mục tiêu tối đa- 40.000 km, cự ly phát hiện và bám các đầu tác chiến của ICBM là 3.700 km.

Sai số cự ly khi bám mục tiêu - 10 mét, sai số theo tọa độ góc - 0,6 góc phút. Công suất phát xung - 250 megawatt. Có thể bám đến 100 mục tiêu cùng lúc.

Năm 1996, “Don-2N” đã chứng minh được ưu thế vượt trội của mình so với các radar tốt nhất cùng lớp của Mỹ trong một cuộc thử nghiệm mang tên ODERACS.

Cuộc thử nghiệm này được tiến hành với mục tiêu xác định khả năng phát hiện các phần tử của mảnh vỡ vũ trụ cỡ nhỏ của các radar Mỹ và radar Nga. Để tiến hành thử nghiệm, tàu vũ trụ "Con thoi" đã "rải" các viên bi (kim loại) có đường kính lần lượt là 5 cm, 10 cm và 15 cm vào quỹ đạo.

Và duy nhất chỉ có radar “Don-2N” Nga phát hiện ra những “viên bi” có đường kính 5 cm và lập được quỹ đạo chuyển động của chúng ở khoảng cách lên tới 1.500 km.

Hệ thống A-135, như đã đề cập ở trên, đã được trang bị các tên lửa mới với những tính năng có một không hai. Tuy nhiên, trên thực tế, những khả năng thực sự của “Amur” có thể còn cao hơn nhiều những gì đã được công bố.

Sau khi kết thúc các thử nghiệm cấp nhà nước hệ thống A-135, Tổng công trình sư Anatoly Basistov đã nói đại ý như sau: “Hệ thống này cho thấy nó còn có “tiềm năng” rất đáng kể ở tất cả các tham số.

Tên lửa đánh chặn tốc độ cao 53T6 có thể tiêu diệt các mục tiêu đạn đạo ở cự ly lớn hơn 2,5 lần và ở độ cao lớn hơn ba lần so với những gì chúng ta mới công nhận. Hệ thống này đã sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ phá hủy các vệ tinh quỹ đạo thấp và các nhiệm vụ chiến đấu khác.

Nói như thế có nghĩa là tầm bắn của "tên lửa chống tên lửa (đánh chặn) tầm ngắn" có thể đạt tới 250 km và độ cao đánh chặn- 90 km. Trên các tên lửa đánh chặn của hệ thống “Amur”, đầu tác chiến đã được thay mới và có công suất 10 kiloton, giải phóng một luồng neutron khi phát nổ.

"Nudol" sẽ là một hệ thống cơ động

Việc chuyển từ hệ thống A-135 "Amur" sang hệ thống A-235 (tức “Nudol”) sẽ được tiến hành theo từng giai đoạn để không làm gián đoạn hoạt động của "Amur". Trên thực tế, quá trình này đã bắt đầu từ cách đây rất lâu.

Đã gần 10 năm nay, trạm radar “Don-2N” đã được hiện đại hóa, trong quá trình này các kỹ sư và lập trình viên đã cải thiện được rất đáng kể khả năng phát hiện các mục tiêu đạn đạo và dẫn tên lửa đánh chặn đến mục tiêu.

Trong thời gian này, cự ly hoạt động của radar đã tăng lên nhiều và cùng với đó là được mức tiêu thụ điện năng xuống ngưỡng tối thiểu, độ phân giải của ăng ten mạng pha chủ động tăng gấp đôi.

Làm được như vậy là nhờ phát minh được các thuật toán mới hiện đại hơn hơn để xử lý các thông tin nhận được từ ăng-ten.

Việc đưa vào sử dụng một siêu máy tính mới "Elbrus-3M" với hiệu suất tăng mạnh cũng đóng một vai trò rất quan trọng (những thông tin mới nhất về “Don-2N” đã có trong bài "Bộ não" của hệ thống A-135 đã nhanh gấp 10.000 lần(DVO, 23/1/2021-ND).

Hai tên lửa đánh chặn nói nói trên, không chỉ có những tính năng được cải thiện, mà còn sẽ không được phóng từ các hầm phóng- chúng sẽ được bố trí trên trên khung gầm các xe bánh lốp.

Có nghĩa là chúng cũng sẽ có khả năng cơ động như các tổ hợp tên lửa chiến dịch- chiến thuật “Iskander-M” hoặc ICBM “Yars”. Nhờ vậy, không chỉ tăng được khả năng giữ mật cho tên lửa đánh chặn, mà tăng được khả năng sử dụng nó một cách linh hoạt trên lãnh thổ của hệ thống phòng thủ tên lửa.

Có nghĩa là, trong trường hợp cần thiết, các tên lửa đánh chặn có thể cơ động để thay đổi vị trí địa lý của khu vực cần được bảo vệ. Tất nhiên, trong những giới hạn nhất định.

Do cấp độ mật tầm chiến lược của hệ thống, không phải tất cả các tính năng của hệ thống “Nudol” và các thành tố cấu thành của nó được tiết lộ. Lấy ví dụ cụ thể, hiện không ai biết chính xác pha cuối của việc đánh chặn các ICBM của đối phương sẽ diễn ra như thế nào.

Có thông tin cho rằng đầu tác chiến của tên lửa đánh chặn sẽ được chế tạo "theo phong cách Mỹ." Tức là,sử dụng phương pháp động năng- ICBM bị phá hủy bằng tác động cơ học, không sử dụng bất kỳ loại chất nổ nào. Chính đây là cách “làm việc” của các tên lửa đánh chặn Mỹ.

Người Mỹ đào hầm ở Alaska

Như đã biết, vào năm 2001, Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp ước ABM và một năm sau đó, hiệp ước này không còn hiệu lực.

Tuy nhiên, ít người biết rằng Hoa Kỳ đã bắt đầu vi phạm nó từ những năm 90 – cụ thể là (vi phạm) phần của hiệp ước quy định cấm không chỉ triển khai, mà còn cấm cả việc thiết kế và thử nghiệm các hệ thống bố trí trên mặt đất, trong vũ trụ và trên biển.

Năm 1999, (tổng thống Nga) Yeltsin phàn nàn với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright về việc- theo các nguồn tin đáng tin cậy Nga có lúc đó thì Mỹ đang thiết kế hệ thống phòng thủ chống tên lửa toàn cầu.

Tuy nhiên, bà Albright đã đảm bảo với Yeltsin rằng Mỹ cam kết sẽ trung thành với tinh thần và câu chữ của Hiệp ước quan trọng này.

Nhưng đến năm 2005, hệ thống Ground-Based Midcourse Defense (GBMD) đã được triển khai tại ở Alaska. Có một điều khá dễ hiểu là để xây dựng được một hệ thống như vậy, cần ít nhất 10 năm, thậm chí là 15 năm.

Trong thành phần của GBMD có 3 radar cố định với cự ly phát hiện mục tiêu 2.000 km bố trí tại Alaska, California và Massachusetts. Sau đó một thời gian, thêm một radar cơ động có khả năng di chuyển trên vùng biển của các đại dương trên một tàu nổi có lượng choán nước 50.000 tấn.

Các radar dải tần centimet không chỉ phát hiện được ICBM mà còn dẫn các tên lửa đánh chặn ba tầng phóng từ hầm phóng đến mục tiêu. Hiện giờ có 48 tên lửa đánh chặn như vậy- 44 quả ở Alaska và 4 quả- ở California.

Đến giữa thập kỷ này, Mỹ có kế hoạch nâng tổng số tên lửa đánh chặn lên 78 quả. Trên thực tế, đây là tên lửa- phương tiện mang vũ trụ đưa lên vũ trụ đầu đánh chặn cơ động nặng 64 kg EKV (Exoatmospheric Kill Vehicle). EKV được trang bị đầu tự dẫn hồng ngoại phá hủy các ICBM ở phần giữa của quỹ đạo bằng tác động cơ học.

Vào đầu những năm 90, khi hệ thống phòng thủ chống tên lửa quốc gia (NMD) của Mỹ được hình thành, thì ý tưởng đánh chặn động năng là một ý tưởng tiên tiến.

Vì khi đó không chỉ các đối thủ của Mỹ - CHDCND Triều Tiên và CHND Trung Hoa, mà ngay cả Nga cũng sở hữu những ICBM với nguyên tắc hoạt động đã được xác định từ những năm 60.

Cho dù tên lửa bay với tốc độ nào, dù nó bay lên đến độ cao bao nhiêu trong vũ trụ, quỹ đạo bay của nó là hoàn toàn rõ ràng đối với các hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Tên lửa là tên lửa đạn đạo và vì vậy, nó di chuyển theo một quỹ đạo rất dễ tính toán.

Có nghĩa là đối phương sẽ biết được ngay cần phải đưa tên lửa đánh chặn đến điểm nào để nó có thể “đón được” ICBM một cách chính xác

Tuy nhiên, vũ khí tên lửa của Nga trong thời gian qua đã có những bước tiến vượt bậc. Đã xuất hiện các công cụ mới làm tăng đáng kể khả năng xuyên thủng các khu vực phòng thủ chống tên lửa.

Đó là các mục tiêu giả bay quanh tên lửa. Thêm nữa, diện tích phản xạ radar hiệu dụng của các mục tiêu giả này cũng bằng diện tích phản xạ radar hiệu dụng của chính tên lửa. Đã có các đầu tác chiến cơ động với tốc độ siêu thanh (M>5). .....

Trong tương lai gần, ICBM Nga “Sarmat” còn có khả năng tấn công Hoa Kỳ từ hướng nam, nơi nước này không có hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Vì vậy, đến thời điểm hiện tại, việc đánh chặn bằng động năng đã không còn quá hiệu quả.

Iran và Bắc Triều Tiên không hề liên quan gì ở đây

Thậm chí từ trước đó, vào những năm 1980, Mỹ đã bắt đầu chế tạo hệ thống phòng thủ chống tên lửa hải quân “Aegis” trang bị tên lửa RIM-161 SM-3.

Hiện nay, hệ thống này hiện được tích hợp vào 73 tàu của NATO, chủ yếu là các tàu của Hải quân Mỹ. Và gần đây, sau nhiều lần “thử và sai”, hệ thống này đã đánh chặn được ICBM.

Nhưng ICBM này lại là một tên lửa "không láu lỉnh lắm" – đó chỉ là một phương tiện mang đã hết nhiên liệu bay theo quỹ đạo đạn đạo và không tìm cách "đánh lừa" tên lửa đánh chặn.

Sắp tới, hệ thống phòng thủ chống tên lửa Châu Âu đang được triển khai tại Romania và Ba Lan sử dụng công nghệ “Aegis” sẽ đi vào hoạt động.

Hoàn toàn dễ hiểu là tất cả những công trình này, trái ngược hoàn toàn với những tuyên bố của Hoa Kỳ, không phải được dựng lên để bảo vệ Châu Âu chống lại tên lửa của những "quốc gia bất hảo" - Triều Tiên và Iran. Mục tiêu là rõ ràng - để làm thay đổi cán cân tiềm lực tên lửa- hạt nhân tấn công và phòng thủ theo hướng có lợi cho Mỹ.

Vì vậy , Nga không thể thụ động ngồi nhìn Washington tìm cách đạt được ưu thế, vì nếu như vậy sẽ có khả năng làm nóng các bộ não trong Lầu Năm Góc khiến họ có thể tiến hành một cuộc tấn công tước vũ khí phủ đầu, vì tin chắc rằng sẽ không phải hứng chịu các đòn tấn công trả đũa.

Chính vì vậy, để khôi phục lại thế cân bằng, Nga đã bắt đầu chế tạo một thế hệ vũ khí tên lửa mới với xác suất bị đánh chặn cực kỳ thấp.

Đó là các tổ hợp tên lửa chiến dịch- chiến thuật “Iskander-M”, khối tác chiến bay siêu thanh “Avangard” lắp trên ICBM, tên lửa siêu thanh phóng từ trên không (máy bay) “Kinzhal”, ICBM “Bulava” trang bị cho tàu ngầm với công suất tuy không quá lớn, nhưng bù lại, lại có một tổ hợp thiết bị đảm bảo chắc chắn cho nó khả năng khoan mọi hệ thống phòng thủ chống tên lửa.

Ngoài ra, còn có các phương tiện sắp được triển khai như: ICBM “Sarmat”, tên lửa động cơ hạt nhân “Burevestnik” và thiết bị không người lái ngầm “Poseidon”.

Để kết luận, cần phải nói rằng tất cả những thiết kế mới này đều được Phương giải nghĩa là các ý đồ gây hấn của Nga.

Nhưng trên thực tế, đấy là một phản ứng phòng thủ hoàn toàn tự nhiên trước việc Mỹ phá vỡ sự cân bằng hiện có giữa các phương tiện tấn công và phương tiện phòng thủ. Chính đó mới là một minh chứng rõ ràng cho thấy những ý đồ gây hấn từ phía Mỹ.

  • Lê Hùng- Nguyễn Hoàng (dịch)