Tranh luận nóng

Uy đức người xây Quốc Tử Giám Thăng Long

Chủ Nhật, 10/05/2020 22:49

(Góc nhìn văn hóa) - Xây Quốc Tử Giám chắc chắn phải là một vua hiền. Ngài là Lý Nhân Tông, vị vua thứ tư của nhà Lý trong lịch sử Đại Việt.

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Tượng Hoàng đế Lý Nhân Tông thờ ở Văn Miếu Hà Nội.

Hoàng đế Lý Nhân Tông, tên húy Càn Đức, ra đời trong tình yêu đẹp như huyền thoại của vua Lý Thánh Tông và cô gái hái dâu giỏi giang xinh đẹp vùng Kinh Bắc, Ỷ Lan.

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Tượng Linh Nhân Hoàng Thái Hậu ở Gia Lâm Hà Nội.

Hoàng hậu Ỷ Lan không chỉ sinh hạ ra vị hoàng đế hiền tài vào bậc nhất trong lịch sử cho triều đình nhà Lý, mà bà còn giúp nhà vua, cả Tiên đế và con trai kế vị, hay nói rộng ra giúp đất nước, giúp nhân dân thật nhiều việc. Câu chuyện về hoàng hậu Ỷ Lan, chúng tôi sẽ kể cùng các bạn ở một bài báo khác.

Hoàng đế Lý Nhân Tông và những con số kỷ lục.

Sử chép: ngày 22 tháng 2 năm 1066, tức ngày 25, giờ Hợi, tháng Giêng mùa xuân năm Bính Ngọ, hoàng tử Càn Đức ra đời. Vua cha vui mừng không xiết.

Ngay sáng hôm sau, nhà vua đã sách lập ông làm Hoàng Thái tử, đổi niên hiệu thành Long Chương Thiên Tự, và đại xá thiên hạ. Phong mẹ Thái tử là Ỷ Lan phu nhân làm Thần Phi. Đó là một vinh dự mà chưa một hoàng tử nào có được, trong suốt lịch sử Đại Việt.

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Tranh minh họa Lý Càn Đức lên ngôi năm 6 tuổi.

Năm 1072, vua cha Lý Thánh Tông băng hà, Hoàng Thái Tử Càn Đức lên ngôi, là Lý Nhân Tông. Năm ấy, nhà vua mới sáu tuổi. Ông băng hà năm 1128 thọ 63 tuổi. Như vậy Hoàng đế Lý Nhân Tông là vị vua ở ngôi 56 năm, lâu nhất trong lịch sử Đại Việt. Và là một trong chín vị hoàng đế sống thọ trên 60 tuổi.

Chúng tôi xin mở ngoặc một chút về bốn vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử nước ta. Thứ nhất là vua Lý Nhân Tông như đã kể. Thứ hai là vua Lê Hiển Tông  (1716–1786) ở ngôi vua 46 năm từ năm 1740 – 1786. Thứ ba là Vua Lê Thánh Tông (1442–1497) ở ngôi 37 năm, từ năm 1460–1497. Và thứ tư là vua Tự Đức (1829-1883) ở ngôi 36 năm từ năm 1847–1883.

Hoàng đế Lý Nhân Tông còn ‘’lập nên một kỷ lục’’ khác, là triều đại của ông có đến tám lần đổi niên hiệu. Chuỗi danh sách ‘’niên hiệu ‘’dài nhất lịch sử’’ như sau: Thái Ninh (1072), Anh Vũ Chiêu Thắng (1076), Quảng Hựu (1085), Hội Phong (1092), Long Phù (1101), Hội Tường Đại Khánh (1110), Thiên Phù Duệ Vũ (1120) và Thiên Phù Khánh Thọ (1127).

Một câu chuyện nữa, nhưng thật buồn. Trong suốt 56 năm ở ngôi Cửu Trùng, nhà vua không có con nối dõi, dù ông đã lập tới hai vị hoàng hậu vào ngay năm 1072, năm ông mới sáu tuổi…

Uy đức và tài năng hiếm có…

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Tranh vẽ Lý Nhân Tông, vị vua anh minh  trong lịch sử Đại Việt.

Tháng 8 âm lịch năm 1070, khi Hoàng Thái Tử được bốn tuổi, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu, xây tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối (bốn học trò xuất sắc của Khổng Phu Tử), vẽ tranh thất thập nhị hiền để hương khói, và cho Thái tử học tập tại đây.

Đại Việt sử lược biên soạn thời Trần có mô tả về Lý Nhân Tông Càn Đức: ‘’Ngài là người có xương trán nổi lên như mắt trời, ấy là dáng mặt của bậc Thiên tử  và tay thì buông dài quá đầu gối" (Đại Việt sử lược, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, trang 53).

 *****

Trong giai đoạn từ 1075 tới 1077, nhà Tống từ phương Bắc thấy Lý Nhân Tông mới lên ngôi, còn nhỏ tuổi bèn rắp tâm xâm lược. Trong giai đoạn này, nhờ tài thao lược quân sự của Thái Úy Lý Thường Kiệt, cũng như tài năng nhiếp chính của Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức Ỷ Lan phu nhân), Đại Việt đã đứng vững.

Đầu năm 1076, Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu, đánh tan lực lượng quân sự đang chuẩn bị tại đây để đi xâm lăng Đại Việt. Cũng trong năm đó, nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết cầm đại binh sang. Lý Thường Kiệt lại đánh bại quân Tống trên trận tuyến sông Như Nguyệt. Năm 1077, Quách Quỳ chấp nhận giảng hòa, và rút về.

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Tranh minh họa Thái Úy Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu.

Năm 1084, Lý Nhân Tông sai Chánh sứ Trạng nguyên Lê Văn Thịnh sang Nhà Tống biện luận đòi lại đất vùng Quảng Nguyên.

Năm 1085, nhà vua tiếp tục viết thư đòi hai động Vật Dương, Vật Ác, nay thuộc phía tây bắc tỉnh Cao Bằng. Vua Nhà Tống là Tống Triết Tông từ chối. Lý Nhân Tông phái Đàm An đem quân vào đánh Tống, rồi gửi biểu đòi đất. Biểu viết:

“Mặc dầu đấy chỉ là mảnh đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng. Quả thực tổ tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính mạng mới có được đất ấy. Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được sự nghiệp ông cha thì dám đâu dự vào hàng một nước phên dậu, cầu lấy cái sống tạm bợ trong chốc lát.”

Qua lời biểu của Hoàng đế Lý Nhân Tông, chúng ta thấy, dù lời văn mềm mỏng, khiêm cung, nhưng ẩn sau đó là chất thép trong ý chí quân vương, một phân đất của tổ tiên cũng quyết không lùi.

*****

Triều đại Lý Nhân Tông bắt đầu sự phát triển của nền giáo dục khoa bảng Đại Việt. Mùa xuân năm 1075, ông mở khoa thi Tam trường, còn gọi là Minh kinh bác học, để chọn người có tài văn học ra giúp nước. Đây là khoa thi đầu tiên của nền khoa cử Đại Việt. Triều đình chấm đỗ 10 người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh được vào cung dạy học cho vua. (Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1998, trang 138)

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Cổng Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Tháng 2 âm lịch năm 1077, Nhân Tông tổ chức thi lại viên để tuyển chọn quan lại với 3 môn: thư (viết chữ), toán và hình luật. Mùa thu năm 1086, nhà vua lại mở khoa thi chọn người có tài văn học vào Viện Hàn lâm. Mạc Hiển Tích đỗ đầu khoa ấy, được Nhân Tông trao chức Hàn lâm học sĩ. (Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, trang 111- 112).

Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên ở Việt Nam, và chọn những văn thần hay chữ vào giảng dạy. Cùng năm đó, ông ban chiếu ‘’Cầu lời nói thẳng’’ (Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1998, trang 144).

Lý Nhân Tông còn được xem là người khởi công đắp những con đê lớn đầu tiên của Đại Việt. Tháng 9 âm lịch năm 1077, triều đình sai đắp đê trên sông Như Nguyệt, sách Đại Việt sử lược mô tả đê này "dài 67.380 bộ". (Đại Việt sử lược Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, trang 56).

 Đại Việt sử lược cũng chép rằng năm 1103, nhà vua ra lệnh cho cư dân Thăng Long làm đê chống lũ, ở cả nội đô lẫn ngoại ô. Mùa xuân năm 1108, Nhân Tông sai đắp đê tại Cơ Xá, đoạn đê sông Hồng gần cầu Long Biên ngày nay.

Uy duc nguoi xay Quoc Tu Giam Thang Long
Đê sông Đuống (Thiên Đức) vẫn sừng sững đến ngày hôm nay.

Mùa xuân năm 1089, Nhân Tông duyệt lại hệ thống quan lại. Nhà vua phân bố các quan theo 9 phẩm trật. Các quan đầu triều gồm thái sư, thái phó, thái bảo và thiếu sư, thiếu úy, coi cả việc văn lẫn võ…(Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1998, trang 145)

Năm 1117, nhà vua ra quy định cấm giết trâu bò bừa bãi: ‘’Ai mổ trộm trâu bị phạt 80 trượng và tội đồ làm người hầu trong quân đội; người giết trâu và ăn trộm trâu đều phải bồi thường; hàng xóm biết mà không tố cáo cũng bị phạt 80 trượng’’.

Bấy giờ đất nước thường được mùa, thường trúng mùa to, khi hạn hán mất mùa thường phát chẩn kho lương, giảm tô dịch, đất nước nhanh chóng cường thịnh. Nhân Tông rất thường hay xem gặt lúa ở các nơi, cũng như xem bắt voi, lễ hội... để tỏ rõ sự cường thịnh của Đại Việt lúc đó.

*****

Tháng 11 Đinh Mùi, năm 1127, Lý Nhân Tông ốm nặng. Ông đã để lại chiếu chỉ căn dặn cấm không làm tang lễ và xây lăng mộ tốn kém. Chiếu viết:

“Trẫm nghe phàm giống sinh vật không giống nào là không chết. Chết là số lớn của trời đất, lẽ của vật đều thế. Thế mà người đời không ai không thích sống mà lại ghét chết. Chôn cất cho hậu để mất sinh nghiệp, trọng để tang đến tổn hại tính mệnh, trẫm không cho là phải''.

''Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi, lại để cho nhân dân mình mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, tuyệt cúng tế, làm cho lỗi ta nặng thêm, thì thiên hạ bảo ta là người thế nào?''

''Việc tang thì sau 3 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc, việc chôn thì nên theo Hán Văn đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên chôn ngay cạnh Tiên đế”. (Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1993, quyển 3).

Uy và đức của vị Hoàng đế thứ tư nhà Lý là như thế. Từ các cuốn chính sử cho tới giai thoại dân gian… không đâu không khen ngợi, có lẽ đã dùng hết cả mỹ tự để tán thán. Cùng với vua cha, người lập Văn Miếu, Lý Nhân Tông là người đầu tiên xây Quốc Tử Giám ở kinh thành Thăng Long.

Hàn Thủy Giang.